Bế Văn Đàn
Bế Văn Đàn (1931–1954) là một anh hùng liệt sĩ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp của Việt Nam. Ông quê ở Cao Bằng, tham gia quân đội từ rất sớm và nổi tiếng với tinh thần dũng cảm, sẵn sàng hy sinh vì đồng đội. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ (1954), khi đơn vị chiến đấu gặp khó khăn vì thiếu giá súng, Bế Văn Đàn đã dùng chính thân mình làm giá đỡ súng cho đồng đội tiếp tục bắn trả quân địch. Hành động anh dũng đó đã giúp giữ vững trận địa nhưng ông đã hy sinh. Ông được Nhà nước truy tặng danh
Bế Văn Đán quê ở xã Quang Vinh (nay là xã Triệu Ấu), huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng, xuất thân trong một gia đình nghèo có truyền thống cách mạng, cha làm thợ mỏ, mẹ mất sớm, lớn lên đồng chí tham gia hoạt động du kích. Tháng 1/1948, anh vào bộ đội, công tác tích cực, bền bỉ, chiến đấu dũng cảm. Đồng chính tham gia hầu hết các chiến dịch lớn trong kháng chiến chống Pháp. Trong từng chiến dịch, Bế Văn Đàn luôn nêu cao tinh thần dũng cảm, vượt mọi khó khăn, gian khổ, ác liệt, kiên quyết chấp hành mệnh lệnh nghiêm túc, chính xác và kịp thời.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân dân ta lúc bấy giờ đang ở giai đoạn quyết liệt. Trong Chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, Bế Văn Đàn được phân công làm liên lạc tiểu đoàn. Một đại đội của tiểu đoàn được giao nhiệm vụ bao vây ngăn quân Pháp ở Mường Pồn. Lúc đó, khi thấy lực lượng của Việt Minh ít, quân Pháp tập trung hai đại đội có phi pháo yểm trợ liên tiếp phản kích, nhưng cả hai lần chúng đều bị quân ta đánh bại. Cuộc chiến đấu diễn ra căng thẳng và quyết liệt, quân Pháp liều chết xông lên, quân ta kiên quyết ngăn chặn chốt giữ.
Nhận lệnh cho đại đội quyết tâm giữ ở Mường Pồn bằng bất cứ giá nào, tạo điều kiện các đơn vị khác triển khai lực lượng, thực hiện các chủ trương của chiến dịch. Mặc dù Bế Văn Đàn vừa đi công tác về nhưng khi thấy chỉ huy thông báo, anh đã xung phong lên đường làm nhiệm vụ. Anh dũng cảm vượt qua lưới đạn dày đặc xuống đại đội truyền đạt mệnh lệnh:“Bằng mọi giá phải giữ chân địch để đơn vị lớn triển khai lực lượng được kịp thời chu đáo”. Trận đấu ngày càng diễn ra ác liệt hơn, anh được lệnh ở lại đại đội chiến đấu cùng đồng đội. Quân Pháp phản kích lần thứ ba, mở đường tiến, đại đội quân ta bị thương vong nhiều, chỉ còn 17 người, bản thân Bế Văn Đàn cũng bị thương, nhưng anh vẫn tiếp tục chiến đấu. Một khẩu trung liên của đơn vị không bắn được vì xạ thủ hy sinh. Khẩu trung liên của Chu Văn Pù cũng không bắn được vì không có chỗ đặt súng.



