BẾ VĂN ĐÀN – LẤY THÂN MÌNH LÀM GIÁ SÚNG
BẾ VĂN ĐÀN – LẤY THÂN MÌNH LÀM GIÁ SÚNG
Bế Văn Đàn sinh năm 1931, người dân tộc Tày, quê ở xã Quang Vinh, tỉnh Cao Bằng (nay là xã Bế Văn Đàn). Ông sinh ra trong một gia đình nghèo nhưng giàu truyền thống cách mạng. Mẹ mất sớm, cha làm thợ mỏ, tuổi thơ của Bế Văn Đàn gắn liền với những thiếu thốn và gian khổ – cũng chính từ đó hun đúc trong ông ý chí kiên cường và lòng yêu nước sâu sắc.
Từ khi còn rất trẻ, Bế Văn Đàn đã tham gia lực lượng du kích tại địa phương. Tháng 1 năm 1948, giữa lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang diễn ra vô cùng ác liệt, ông tình nguyện nhập ngũ. Trải qua nhiều chiến dịch lớn nhỏ, ở đâu Bế Văn Đàn cũng nổi bật bởi tinh thần gan dạ, kỷ luật nghiêm và ý chí không lùi bước trước gian nguy. Ông luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, từ liên lạc, vận chuyển cho tới trực tiếp chiến đấu.
Cuối năm 1953, khi chiến dịch Đông – Xuân 1953–1954 mở màn, Bế Văn Đàn làm nhiệm vụ liên lạc cho tiểu đoàn đang hành quân về mặt trận Điện Biên Phủ. Một đại đội của tiểu đoàn được giao chốt giữ Mường Pồn – vị trí đặc biệt quan trọng, có nhiệm vụ kìm chân quân Pháp để các đơn vị chủ lực triển khai thế trận.
Quân Pháp phát hiện lực lượng Việt Minh mỏng nên liên tục tổ chức phản kích với hai đại đội có pháo yểm trợ. Cuộc chiến diễn ra vô cùng khốc liệt. Dưới mưa bom, bão đạn, Bế Văn Đàn vẫn dũng cảm băng qua làn đạn để truyền đạt mệnh lệnh từ cấp trên xuống đại đội một cách kịp thời, chính xác. Khi được lệnh ở lại chiến đấu, dù đã mệt và bị thương, ông vẫn kiên quyết bám trụ cùng đồng đội.
Đến lần phản kích thứ ba của quân Pháp, đại đội Việt Minh bị tổn thất nặng nề, chỉ còn lại 17 người. Nhiều chiến sĩ đã hy sinh, bản thân Bế Văn Đàn cũng bị thương nhưng vẫn không rời trận địa. Trong lúc ấy, một khẩu trung liên của đơn vị bị bỏ lại vì xạ thủ đã ngã xuống, khẩu khác không có điểm tựa để bắn.
Giữa tình thế ngàn cân treo sợi tóc, nếu không có hỏa lực yểm trợ, trận địa sẽ bị địch tràn ngập. Không một giây do dự, Bế Văn Đàn lao tới, dùng chính thân mình làm bệ đỡ cho khẩu trung liên. Ông quỳ xuống, đặt hai chân súng lên vai mình và hô to:
“Kẻ thù trước mặt! Đồng chí có thương tôi thì bắn chết chúng nó đi!”
Dưới làn đạn của quân thù, khẩu súng lại gầm lên. Địch bị chặn đứng, tạo điều kiện để đơn vị giữ vững trận địa. Nhưng cũng trong khoảnh khắc ấy, Bế Văn Đàn trúng thêm hai vết đạn. Ông ngã xuống, hai tay vẫn ghì chặt khẩu súng trên vai — trong tư thế của một người lính lấy thân mình che chắn cho Tổ quốc.
Bế Văn Đàn hy sinh cuối năm 1953, khi tuổi đời còn rất trẻ. Sự hy sinh của ông trở thành một biểu tượng bất tử của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.
Hình ảnh “Bế Văn Đàn lấy thân mình làm giá súng” đã đi vào lịch sử, trở thành bài học lớn về lòng trung thành, tinh thần kỷ luật và sự hy sinh tuyệt đối vì đồng đội, vì đất nước. Năm 1955, ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cùng nhiều huân chương cao quý.
Ngày nay, tên ông được đặt cho nhiều con đường, trường học, đơn vị hành chính trên khắp cả nước. Tại quê hương Cao Bằng, một xã đã mang tên Bế Văn Đàn như lời tri ân của các thế hệ hôm nay đối với người con anh dũng của núi rừng Việt Bắc.
Bế Văn Đàn đã ngã xuống, nhưng tinh thần của ông – tinh thần lấy thân mình che chắn cho Tổ quốc – sẽ còn sống mãi trong lịch sử dân tộc Việt Nam.



