BÁC HỒ ĐÓN KHÁCH LÀO
HỒ ĐỨC LIÊN
Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu của chúng ta luôn chú trọng đến công tác đối ngoại, từ lời nói đến hành động của Người luôn thể hiện tình cảm thân thiết, hữu nghị giữa Việt Nam với các nước anh em, bè bạn năm châu. Vinh dự được làm người phiên dịch cho Bác Hồ trong dịp đón khách nước bạn, tôi có dịp hiểu thêm về Người, cũng như hiểu thêm rất nhiều về tình đoàn kết hữu nghị giữa hai nước Việt - Lào. Ấn tượng trong buổi gặp gỡ mãi mãi không xóa mờ trong tâm trí tôi cũng như trong lòng tất cả những người có mặt hôm đó.
Tháng 4 năm 1962, mười ba nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu mời Đoàn đại biểu cấp cao của Chính phủ liên hiệp Lào sang thăm hữu nghị. Đoàn đại biểu này do Nhà Vua Lào Xa-vàng Vắt-tha-na làm Trưởng đoàn, đồng chí Phu-mi Vông-vi-chít làm Phó đoàn. Hành trình của đoàn là sau khi kết thúc chuyến thăm hữu nghị các nước xã hội chủ nghĩa, chặng đường cuối cùng trước khi về nước sẽ dừng lại thăm Việt Nam. Chuyến thăm này xuất phát từ lời mời nhiệt thành của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng là để thực hiện mục tiêu bắt tay với các nước anh em theo như công tác đối ngoại của chúng ta khi đó. Tôi vinh dự được chọn làm người phiên dịch khi Bác tiếp đón đoàn đại biểu Chính phủ liên hiệp Lào.
Đúng theo kế hoạch, chúng ta tiếp đón đoàn đại biểu Chính phủ liên hiệp Lào tại Hà Nội. Khi đoàn từ Trung Quốc về đến Phủ Chủ tịch, Bác ra đón đoàn bằng cách chắp hai tay như nghi lễ chào hỏi của nước Lào. Bác nói:
- Xăm bai đi (Xin chào).
Trưởng đoàn - Nhà Vua cùng các thành viên trong đoàn bạn cũng chắp tay chào:
- Xăm bai đi.
Bác trả lời:
- Khọn chay (Cảm ơn).
Sau đó Bác mời đoàn vào phòng khách. Khi Bác đứng dậy trò chuyện, tôi phiên dịch cho đoàn biết về câu nói của Bác:
- Đoàn đi công tác về tới Việt Nam coi như đã về tới nhà. Xin đoàn cứ nghỉ ngơi tự nhiên, thoải mái như ở nhà mình ở nước Lào vậy.
Từ câu nói này của Bác, không khí trở nên thân mật, ấm cúng hơn. Cuối bài phát biểu, Bác ngừng lại một chút rồi thong thả nói:
- Tôi xin phép mọi người trong đoàn, cho phép tôi nhân danh một lão thành cộng sản xin được ôm hôn đức Vua.
Tôi dịch xong, cả hội trường vang dội tiếng vỗ tay; Bác và Nhà Vua quàng tay, ôm hôn thắm thiết. Hội trường lặng đi trong cử chỉ tôn vinh tình đoàn kết này. Tôi cũng xúc động trước cử chỉ của vị Cha già dân tộc kính yêu của chúng ta.
Sau bữa tiệc chiêu đãi, đoàn được xem biểu diễn văn nghệ. Theo chỉ đạo từ trước của Bác, chương trình văn nghệ diễn ra trong một tiếng rưỡi ấy có đến một phần ba là những tiết mục ca múa nhạc của nước Lào. Những điệu múa Lào rất uyển chuyển, nhịp nhàng theo lời ca êm ái, mượt mà... Trong tâm trạng phấn chấn, Vua Lào và Bác ngồi trò chuyện với nhau về các vấn đề trong nước và thế giới hết sức thân mật. Sau khi xem biểu diễn, Bác mời đoàn ăn tối. Tôi dịch lại ý của Bác cho đoàn nghe:
Biết tin có đoàn nước Lào đến thăm Việt Nam, đồng bào Tây Bắc tổ chức đi săn được một con nai. Vì thế, tối nay mời đoàn ăn phở thịt nai.
Nhưng người trong đoàn nghe thế, đều hiểu rằng nhân dân Việt Nam rất yêu quý và vui mừng khi biết tin đoàn đại biểu nước bạn đến thăm nước ta.
Tôi từng có một thời gian dài chiến đấu bên nước bạn Lào nên hiểu rõ về cách ăn uống của bạn. Vì thế tôi vào bếp bảo cô chiêu đãi viên lấy ớt cho các bàn, vì khẩu vị của người Lào là ăn món gì cũng khá cay. Tôi không quên dặn thêm các cô mang thìa và nĩa, vì có thể bên nước bạn không dùng đũa. Thấy tôi chú ý đến từng chi tiết nhỏ, Bác mỉm cười nhìn tôi hài lòng. Riêng đức Vua Lào thì dùng đũa giống như Bác để ăn phở.
Sau khi ăn, nhân viên lễ tân bưng cà phê đen và cà phê sữa ra. Bác cẩn thận nhắc các cô mang thêm nước đun sôi để nguội cho khách. Trước khi chào từ biệt để đoàn nước bạn nghỉ ngơi, Bác bắt tay đức Vua và chúc:
- Non đi! (Chúc ngủ ngon!).
Sáng hôm sau đoàn đi tham quan Trường đại học Bách khoa. Trường đã huy động khoảng năm nghìn sinh viên cầm cờ nước Lào và cò Việt Nam vẫy chào đoàn ngay từ ngoài cổng vào đến trong trường. Đồng chí Phạm Văn Đồng hướng dẫn đức Vua và các vị khách trong đoàn vào thăm, ban giám hiệu, các phòng học, ký túc xá sinh viên. Còn Bác Hồ thì ngồi xuống bãi cỏ ở ngoài sân. Thấy thế, các sinh viên ùa ra, sung sướng quây tròn xung quanh Bác, từng nhóm, từng nhóm rất đông. Bác trò chuyện, hỏi han đời sống, nơi ăn nghỉ, học hành, quê hương của từng cháu hết sức thân mật. Sinh viên cũng líu lo kể cho Bác nghe thật kỹ và mọi người đều cố gắng đến ngồi thật gần Bác. Khi đức Vua và đoàn đi ra sân, thấy Bác ngồi cùng sinh viên ngoài bãi cỏ, ngạc nhiên, một thành viên trong đoàn nói với tôi:
- Thường thì Nhà Vua đi tới đâu nhân dân phải đón rước long trọng, tưng bừng. "Vua" Việt Nam giản đơn và dễ gần gũi thật đấy! Không biết đến khi nào thì nhân dân Lào được vinh dự đón "Nhà Vua" Việt Nam sang thăm, chúng tôi mong lắm!
Nhân dịp này, ta cũng mời Đoàn bóng đá thanh niên Lào sang thi đấu hữu nghị. Song máy bay đưa đoàn sang Việt Nam bị trục trặc, kim sa bàn bị hỏng, mất phương hướng đường bay trong lúc chỉ còn hai mươi lăm phút nữa thì hạ cánh tại sân bay Gia Lâm. Cứ mười phút Bác lại điện thoại cho đồng chí Phùng Thế Tài - Tư lệnh phòng không - không quân hỏi thăm máy bay của Lào đã hạ cánh chưa. Đồng chí Phùng Thế Tài báo cáo với Bác rằng đã cho hai máy bay phản lực Micl7 đi đón. Thật may vì máy bay ta đã gặp được máy bay chở đoàn bóng đá cách xa biển Hải Phòng hơn hai trăm dặm, sau đó ta hướng dẫn máy bay đoàn bóng đá Lào hạ cánh tại sân bay Gia Lâm khi dầu máy bay chỉ còn đủ để bay thêm chừng mười lăm phút nữa.
Sáng hôm sau, Bác mặc bộ quần áo ka ki, đi dép cao su, đi xe pốp-pê-đa cũ đến gặp đoàn bóng đá Lào tại Phủ Chủ tịch. Khi Bác vào phòng, mọi người đều đứng dậy vỗ tay chào, Bác liền ra hiệu cho ngồi xuống và bảo:
- Cháu nào trẻ tuổi nhất trong đoàn thì lại ngồi gần Bác.
Anh trưởng đoàn bóng đá Lào thưa với Bác:
- Thưa Bác, Thao-khăm-pheng mười tám tuổi là trẻ nhất so với anh em trong đoàn ạ!
Khăm-pheng được đến gần Bác, liền chắp tay chào vàt rơm rớm nước mắt xúc động. Bác hỏi:
- Tại sao cháu lại khóc?
- Báo cáo Bác, cháu được gặp và ngồi gần Bác, cháu nhớ bố già của cháu vừa mới qua đời.
Bác liền an ủi Khăm-pheng và nói với cả đoàn:
- Bác được đồng chí Phùng Thế Tài - Tư lệnh phòng không - không quân báo cáo là máy bay của đoàn các cháu trục trặc kỹ thuật không xuống sân bay Việt Nam đúng giờ được nên Bác rất lo. Cho đến khi đồng chí Tài báo cáo lại rằng máy bay đã xuống sân bay Gia Lâm an toàn khi chỉ còn đủ dầu để bay mười lăm phút, Bác mới thở phào nhẹ nhõm. Ngày mai các cháu sẽ thi đấu với đội bóng đá Việt Nam. Bác sẽ đến xem, các cháu cố gắng chơi thật hay nhé!
Trưởng đoàn bóng đá Lào hứa với Bác rằng sẽ cố gắng đá thật tốt, được - thua - thắng - bại không quan trọng. Bác cười:
- Như thế, trận đấu hữu nghị ngày mai nhất định là hay rồi!
Cả hội trường vỗ tay hồi lâu. Lúc chia tay, các cháu thanh niên đội bóng đá Lào đều đến chạm tay vào bộ quần áo ka ki của bác, ngắm "Vua" nước Việt Nam đi dép cao su, trở về trên chiếc xe pốp-pê-đa cũ, trong lòng vô cùng lưu luyến. Mọi người xúm lại hỏi Khăm-pheng - người may mắn được ngồi cạnh Bác về cảm tưởng của cậu. Khăm-pheng trả lời:
- Tôi cảm thấy như đang ngồi bên cạnh bố tôi khi bố còn sống. Đó là cảm giác vui sướng khi ngồi cạnh người thân thiết ruột thịt của mình.
Như dự đoán trước của Bác, trận đấu bóng đá diễn ra rất hấp dẫn, hai đội chơi rất đẹp, rất hay và kết thúc với tỷ số hòa 1:1.
Đoàn Đại biểu Chính phủ liên hiệp Lào kết thúc cuộc viếng thăm hữu nghị 13 nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu với kết quả tốt đẹp. Chuyến đi đã dừng lại tại nước Việt Nam. Không giống như một chuyến đi thăm thông thường nữa bởi với nước bạn Lào, bầu không khí ấm áp, thân thiết ấy gây cho họ cảm giác trở về với gia đình mình, ai nấy đều hết sức phấn khởi và vui vẻ. Về tới Thủ đô Viêng Chăn, đức Vua - trưởng đoàn vẫn không nguôi nhớ tới tình cảm chân thành của người Việt Nam khi đón tiếp đoàn nước bạn. Kết luận cuối cùng của Nhà Vua đã thể hiện rõ sự hài lòng của ngài về tình cảm hai nước: Chừng nào Cụ Hồ Chí Minh còn, nhân dân Việt Nam còn thì tình đoàn kết Việt - Lào mãi mãi còn son sắt.
Công tác đối ngoại của quốc gia luôn rất quan trọng, bài học này tuy Bác không trực tiếp dạy cho tôi, nhưng sau lần được đi phiên dịch ấy, tôi thấy mình trưởng thành và hiểu biết thêm rất nhiều điều về cách ứng xử với nước bạn. Tình cảm của những người trong đoàn nước Lào hôm ấy cũng xuất phát từ những ấn tượng tốt đẹp mà Bác Hồ kính yêu và nhân dân Việt Nam đã dành cho họ trong những giờ khắc họ đến thăm.
Đã hơn bốn chục năm trôi qua, vị cha già của dân tộc đã yên giấc ngàn thu nhưng nhớ về Người, tôi vẫn không nguôi nhớ tới kỷ niệm với Người và đoàn công tác Nhà nước Lào năm ấy. | |
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory Moderator  Bài viết: 2335  | 
| Bên dãy Trường Sơn« Trả lời #2 vào lúc: 31 Tháng Giêng, 2022, 08:21:13 am » | CÁNH VÕNG NGHĨA TÌNH
CÔNG VIỄN (Ghi theo lời kể của đồng chí Ngô Nẹp)
Tôi bảo bác sĩ Lạng: "Cứ mổ bụng noọng ra, chuyện nhân đức có chi mà ngại?". Nhưng Lạng rùng mình, đôi mắt lạc đi như mắt người vô hồn, tay run run làm cho con dao sáng loáng rơi đánh choang xuống chiếc đĩa đựng bông băng đã thấm cồn 90 độ. Lúc đó, hiển hiện hình ảnh một thiếu nữ người Mông với nước da mịn màng, đôi vai nở nang vuốt xuống cái eo lưng và đôi chân thon thả chạy lon ton trên chiếc cầu độc mộc vắt qua con suối nước cuồn cuộn chảy năm nào...
Ngày ấy, đơn vị bộ đội quân tình nguyện Việt Nam giúp các bạn Lào nhận nhiệm vụ từ Cánh Đồng Chum bí mật luồn rừng giữa mùa mưa của Thượng Lào vào khu địch hậu phía đông Viêng Chăn xây dựng căn cứ du kích để đón thời cơ giải phóng Viêng Chăn sau này. Chúng tôi xuất phát đêm 25 tháng 6 năm 1966 từ Khang Khay, với lời giao nhiệm vụ của Thủ trưởng Bình Sơn trước khi lên đường: "Vào khu rừng phía Đông Viêng Chăn ấy, các đồng chí phải hoàn toàn tự túc. Khi chưa nắm được dân, mọi sinh hoạt đều phải dựa vào sự hoang dã của rừng. Tuy nhiên, sự hoang dã ấy không phải là vô tận, nên phải dựa vào dân. Dựa vào dân không chỉ là bát gạo, trái bắp mà cái chính, cái vô tận là lòng dân...
Ai đã từng dọc ngang đất nước Triệu Voi đều biết sự khác nhau như ngày và đêm, như mưa và nắng, như ao và biển giữa rừng Trung Lào và rừng Thượng Lào. Nếu ở Trung Lào là những cánh rừng khộp trông thấy sự mênh mang, cây cối thưa thớt, trầm mặc thì rừng ở Thượng Lào là mịt mù dây rợ, gai góc chằng chịt. Do phải giữ bí mật nên trên đường đi chúng tôi chẳng những không được phát cây để mở đường mà còn không "bẻ cỏ" nên phải dắt tay nhau mà luồn rừng, nếu không là lạc. Mà đã lạc là sẽ nằm lại mãi mãi với rừng, với tiếng của hang động, tiếng cót két của cây rừng... Cũng vì phải luồn rừng như thế nên gai góc xé nát quần áo trên người. Các loại vắt: vắt xanh vắt vàng, vắt bò vắt nhay, vắt ngỗ ngược, vắt âm thầm đều "xây căn cứ" vào nách, vào bẹn, vào mang tai... làm cho chúng tôi ngứa ngáy, bực bội. Tất cả những gì vướng vất như nồi quân dụng kềnh càng đều lẳng đi hết. Khi xuất phát từ Khang Khai, mỗi người chỉ khoác được 15 ngày gạo. Bởi lẽ, gạo nuôi ta sống, nhưng sống để đánh giặc thì phải có súng ống, đạn dược và khí tài nữa chứ. Do mưa tầm tã suốt ngày lẫn đêm và gai góc cứa nát tất cả những gì trên người chúng tôi nên đến ngày thứ năm, thứ sáu gạo mang theo đã mốc xanh rồi biến thành màu đen như "cứt chó". Mặc dù vậy, gạo vẫn là gạo nên vẫn còn ăn được. Đến ngày thứ mười, đồng chí dẫn đường người Lào là Lườm A-pú trèo lên cây cao lêu đêu trên một đỉnh đồi rồi tụt xuống bảo: "Chúng mày ơi, vẫn còn ở phía tây nam Long Chẹng, phải trên 20 ngày nữa mới tới nơi!".
Thế là 5 ngày gạo phải chia ra cho 20 ngày. Khi ấy thì mười người như chục, ai cũng ngong ngóng "miếng cứt chó" của anh nuôi. Nhưng rồi "cứt chó" cũng chẳng còn, chúng tôi phải sống bằng măng rừng. Tuy nhiên, măng chỉ là "gia vị", chứ càng ăn càng rão, anh nào anh nấy đều hốc hác, mắt sâu hoắm, chân tay bủn rủn. Tôi trông bác sĩ Lạng thấy anh đến là thảm hại, vừa thương anh vừa bật cười về cái trán dô ra, cái má hóp lại của anh, nhưng không dám cười sợ anh mủi lòng. Có biết đâu, cả tôi, cả các đồng chí khác, té ra cả đoàn đều như vậy!
Trời vẫn cứ mưa như trút. Bỗng một đêm qua trảng trống, chúng tôi trông thấy một ngôi sao nhấp nháy, sáng lung linh và thấp lè tè tưởng chừng như với được. Ai cũng mừng thầm, sớm mai sẽ có nắng. Thủ trưởng Khoa bảo: "Ngày mai có nắng, ta sẽ nghỉ chân để trút đi sự hôi hám trong người". Chúng tôi chưa kịp mừng thì anh bạn Lào dẫn đường bảo: "Một sao - ao nước. Chúng mày chớ có mừng vội!". Lời "tiên đoán" của Lườm A-pú quả không sai. Mới tang tảng sáng gió đã mang theo mưa, ầm ầm đổ xuống núi rừng, quật gãy răng rắc các loại cây, trời tối mịt mùng, đen đặc như trong hũ. Hết thảy mọi người trong đoàn đều ướt sườn sượt. Mặt đất bỗng chốc chìm nghỉm trong nước. Chúng tôi đều phải chạy bì bõm lên các mô đất cao, ngồi ôm gối thu lu, run lẩy bẩy. Chúng tôi cứ ngồi thi gan với trời đất như vậy cho đến lưng lửng chiều thì bỗng thấy một bóng người lum khom bên kia bờ trảng. Cái bóng cứ thấp thoáng lúc có, lúc không. Mưa đã ngớt, mây đen dắt díu nhau trôi lan man về phía chân trời, ánh nắng yếu ớt đong đưa trên những đọt cây ngậm nước. Chúng tôi phân công cho mấy đồng chí cầm súng ra bìa rừng xung quanh trảng để cảnh giới và mấy anh hì hục đào củ mài ngay bên bờ suối, còn tất cả đều cởi quần áo, hay nói đúng hơn là những bộ đồ đã rách tươm tả vắt cho kiệt nước rồi hong lên những tảng đá ở giữa trảng tròn. Chúng tôi gạt nước mắt khi trông thấy thân hình tiều tụy của nhau rồi kiếm củi đem xuống suối rửa, đoạn đốt lên mướng củ mài. Một điều hết sức vô lý, tưởng là ngu ngốc nhưng lại hợp lý là, với củi khô ở Thượng Lào, trước khi đun phải đem rửa kỹ củi mới bắt lửa* (Củi bị mối đắp đầy đất bên ngoài nên nếu không rửa sạch đất thì không thể mồi lửa được). Đó là điều hết sức lạ lùng. Nhưng sự lạ lùng ấy vẫn chưa sánh kịp sự kỳ lạ là trong cùng một lúc, cùng một nơi lại có tới bốn hướng gió** (Vùng này có nhiều hang động dưới mặt đất, thường hút gió tạo thành vòng xoáy 4 hướng), làm cho củ mài không sao chín được. Sự kỳ lạ này đã giúp chúng tôi vợi đi sự thiếu thốn về vật chất, bù vào đó là sự từng trải của chí làm trai. Bỗng những câu thơ: Làm trai sống ở trong trời đất / Phải có danh gì với núi sông của Nguyễn Công Trứ hoặc: Làm trai cho đáng nên trai / Phú Xuân đã trải, Đồng Nai đã từng cứ chảy rần rần trong máu chúng tôi. Chúng tôi thấy tự hào vì ít nhất bản thân mình cũng sống có ý nghĩa, chép miệng xem thường những hạng người ru rú bên váy vợ hoặc: An góc bếp / Chết góc chạn...
Chúng tôi mỗi đứa cầm một khúc củ mài còn sường sượng, đen thui lủi chùi vào ống quần rách bươm bả, nhai nhồm nhoàm, trông nhau cười ré lên thì bỗng thấy mấy bóng người lại thập thò nơi bìa trảng. Chúng tôi bàn nhau rồi quyết định cử anh bạn Lào bí mật vòng ra phía sau những cái bóng kia xem sao. Thủ trưởng Khoa và chính trị viên Thu phân công cho từng tiểu đội chiếm lĩnh các gò cao sẵn sàng chiến đấu.
Chúng tôi chưa kịp triển khai đội hình thì anh bạn người Lào đã huơ tay, nhảy tâng tâng dẫn một đoàn người đi theo tiến về phía chúng tôi. Đi sau Lườm A-pú là một ông già quắc thước, bắp chân, bắp tay và lồng ngực se lại như một võ sĩ, trông ông na ná như những pho tượng đá trong những hang động Ma-hả-xay của người Lào. Chắc đó là già làng. Sau ông già là những thanh niên và thiếu nữ của một bản người Mông gần đó. Lườm A-pú bảo với tôi: "Đây là dân của bản Phù Vinh ra đón chúng mày do noọng này trông thấy chúng mày đầu tiên rồi chạy về báo cho người già". Lườm A-pú vỗ vào vai người thiếu nữ ấy. Noọng cười cười, bẽn lẽn liếc trộm từng đứa chúng tôi, còn dân bản thì xì xào với nhau. Chắc bà con thấy thân hình còm cõi của chúng tôi nên hết thảy đều sụt sịt, nước mắt lưng tròng. Giây phút thiêng liêng ấy đã hòa chúng tôi vào dân bản. | |
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory Moderator  Bài viết: 2335  | 
| Bên dãy Trường Sơn« Trả lời #3 vào lúc: 31 Tháng Giêng, 2022, 08:21:48 am » | Trời tạnh hẳn, bà con dỡ cơm từ những cái bọc mang theo cho chúng tôi ăn. Ăn đến đâu khỏe ra đến đó. Chúng tôi bốc cơm chấm muối, cơm mới đưa vào miệng đã trôi tuột xuống họng. Trong đời mình, đây là bữa cơm ngon nhất. Do nhịn đói lâu ngày, bụng anh nào anh nấy đã căng căng mà ánh mắt vẫn thòm thèm nên đồng chí chỉ huy phải liếc mắt ra hiệu cho chúng tôi dừng bốc. Tuy nhiên, đối với một số anh em, cái liếc của thủ trưởng đã quá muộn màng. Tôi là một trong số anh em ấy, cung do ăn quá no nên bụng cứ anh ách không sao đeo ba lô và khí tài được. Hồi còn nhỏ, mẹ tôi bảo khổ nhất là ăn quá no, bây giờ mới thấy thấm. Những đồng chí ăn quá no như tôi đều được bà con đeo ba lô, khí tài cho. Riêng tôi, không rõ là người còm cõi nhất hay là trẻ nhất mà người thiếu nữ kia giành phần ba lô của tôi đầu tiên. Hồi ở chiến khu Khang Khai, tôi đã biết võ vẽ tiếng Lào, kể cả tiếng Mông nên trên đường đi về bản, tôi hỏi người thiếu nữ: "Tên em là gì?". Em còn đang ngượng ngùng thì Lườm A-pú bảo: "Nó là Y-cơ, con gái của Dông Câu - Huyện ủy viên Nhọt Ngừm này đấy.
Năm ấy, Y-cơ chừng 14, 15 tuổi. Em hồn nhiên, cái miệng không hát thì cười, vừa đi đôi tay vừa vung vẩy như người đang múa, đôi chân chạy long tong. Mỗi lần qua cầu độc mộc là em chạy sang trước, đặt ba lô xuống rồi lon ton chạy sang dắt tôi qua cầu. Qua cầu rồi, trông dáng điệu anh Lạng cao lêu đêu, lò dò qua cầu là em bụm miệng cười rồi chạy đánh vút như con sóc sang bên kia dắt tay anh Lạng cùng sang. Chúng tôi cứ đi vui vui như vậy, chả mấy chốc đã tới bản của Y-cơ.
Đoàn chúng tôi nghỉ lại bản Phù Vinh của Y-cơ mươi ngày cho lại sức. Bản nằm chênh vênh trên một trái núi đá. Người Mông không ở nhà sàn như một số dân tộc khác. Nhà của họ được dựng ngay bên sườn núi hết sức sơ sài, gần như tuềnh toàng nhưng đầy gió và trăng sao về mùa khô, hương hoa về mùa mưa. Mới chỉ có mươi ngày được dân nuôi bằng khoai, bằng bắp với thịt nai, thịt hoẵng mà chúng tôi anh nào anh nấy đều béo phị má, da hồng, tóc mượt. Nhưng cũng có những anh, sau cái dáng bảnh trai giả tạo ấy là mở đầu cho những cơn sốt rét li bì, trong đó có tôi. Kinh nghiệm những năm tháng ở chiến khu Sầm Nưa, một chiều nọ, bốc nắm ngô đưa lên miệng mới nhệu nhạo đã tuột xuống cổ họng, ngòn ngọt như mía lùi và tiếp theo đó là cái rùng mình rồi cơn nóng ở đâu ập lại. Toàn thân như lửa đốt, chả biết mặt mũi như thế nào chứ chân tay thì đỏ rần rần và cơn ngứa từ gan ruột kéo ra. Mới xoa xoa được mấy cái thì bỗng da dẻ biến từ màu hồng sang trắng bệch, rồi thâm thẩm như da giun chết. Cái rét quật đổ tôi trong chốc lát. Tôi cứ sốt li bì như vậy hết ngày nọ sang ngày kia nên đơn vị phải gửi tôi lại gia đình Y-cơ. Bác sĩ Lạng để lại cho tôi một lọ thuốc quynin. Tôi vốc từng vốc đưa lên miệng, nhưng cơ thể đã nhờn thuốc. Chắc thân hình tôi lúc ấy hốc hác lắm nên Y-cơ cứ khóc lươi rươi mỗi lần tôi lên cơn sốt. Thế rồi già làng dẫn Y-cơ vào rừng, chỉ cho các loại cây chữa sốt rét, Y-cơ mang về nấu cho tôi uống. Chẳng biết các vị thuốc ấy là loại cây gì, khi uống không đắng như quynin mà ngòn ngọt, chua chua và thum thủm. Cứ uống đều đặn mỗi ngày ba bát dăm ngày sau thì tỉnh tỉnh, ăn được mấy thìa cháo. Thấy thế, Y-cơ vừa múa, vừa hát, vừa làm trò để khích lệ tôi. Lúc đầu tay tôi còn run lắm, không thể cầm được thìa, Y-cơ phải bón cho tôi. Mỗi lần tôi "ực" được thìa cháo là em cười như nắc nẻ, rồi lại múa, lại hát để tiếp tục bón cho tôi...
Quả là thuốc tiên. Một lần tôi hỏi Y-cơ: "Hàng trăm thứ lá trên rừng, em biết lá nào là lá thuốc?". Y-cơ liếc xéo tôi một cái rồi bảo: "Em phải bí mật ngồi dưới một hốc cây, chờ cho mặt trời gần lặn thì những con khỉ mẹ mới bồng con ra hái lá những cây tầm gửi, nó nhai nhai rồi đắp vào lỗ đít của con nó. Thế là em trèo lên hái cành tầm gửi đó đem về nấu nước cho anh uống". Tôi bịt miệng cười. Chắc em đoán được tôi cười gì, nên đấm vào vai tôi, má đỏ ửng, lon ton chạy xuống bếp.
Một tháng sau, đơn vị cho bác sĩ Lạng về đón tôi lên khu căn cứ. Anh Lạng bàn với tôi nên có một vật gì để lại làm kỷ niệm cho Y-cơ. Ngẫm nghĩ hồi lâu tôi bảo: "Trong thời gian em được Y-cơ nuôi dưỡng, cải tử hoàn sinh, em thấy Y-cơ rất thích cái võng. Y-cơ đã bứt dây rừng nằm đu đưa trên ấy. Nhiều lần Y-cơ cứ liếc trộm cái võng của em. Nhưng nếu tặng Y-cơ cái võng thì về cứ em nằm bằng gì?". Suy nghĩ hồi lâu có vẻ lung lắm, rồi như tóm được điều gì trong đầu, anh Lạng đập vào tay tôi bảo: "Không lo! Không lo! Ngày mai các anh Thoong Pèn, Bun Hỏm là Tỉnh ủy viên tỉnh Viêng Chăn I Đông về cứ của ta xem ta cần gì, bạn sẽ cung cấp cho, lo gì chiếc võng của cậu".
Chiều hôm ấy, anh em chúng tôi tạm biệt bà con, tạm biệt gia đình Y-cơ. Mọi người bịn rịn bảo chúng tôi thi thoảng phải về với dân bản Phù Vinh. Căn cứ của chúng tôi ở dưới thung, cách sông Nậm Ngừm chừng hai ngày đường và cách bản Phù Vinh của Y-cơ chỉ dăm độ nghỉ, nên từ đó mỗi lần đi rẫy là Y-cơ lại bí mật để bắp để khoai vào một hốc đá có đánh dấu cho chúng tôi. Vì vậy, trong những ngày địch vây căn cứ, triệt đường tiếp tế của các bản làng, chúng tôi vẫn có đồ ăn.
Hơn một năm sau, năm 1967, Y-cơ lấy chồng. Chồng em là du kích của bản Huội Lức, cách căn cứ chúng tôi chừng hơn ngày đường, nhưng thi thoảng Y-cơ vẫn làm bánh ngô đưa cho chồng mang xuống cứ làm quà cho chúng tôi.
Đầu tháng 6 năm 1968 thì Y-cơ trở dạ. Đã hơn một ngày mà vẫn không đẻ được, trời lại mưa như trút, nước lũ trên các triền núi lao vun vút xuống thung. Chồng Y-cơ phải đánh vật với nước vừa phải luồn lách qua các chốt địch để xuống cứ đón bác sĩ lên đỡ đẻ cho Y-cơ. Vừa được tin là các thủ trưởng cử anh Lạng và tôi lên Huội Lức. Chúng tôi đi ngay trong đêm. Vì đi trong mưa tầm tã, lại phải tránh chốt giặc và do phải đi ngược đường nên mãi chạng vạng ngày hôm sau chúng tôi mới tới nơi. Chúng tôi chạy ào vào chỗ Y-cơ thì trời ơi Y-cơ mới tắt thở chừng mươi phút, người vẫn còn nóng, mắt vẫn còn vương lại sự chờ mong! Tôi và anh Lạng nấc lên từng hồi. Bà mẹ chồng Y-cơ vừa khóc sụt sịt vừa bảo chúng tôi: "Lúc mặt trời chưa khuất hẳn, nó biết nó không thể chờ được các con, nó dặn lại là xé cái võng kia ra làm đôi, cho nó nằm một nửa, cho con nó nằm một nửa".
Chúng tôi khóc òa. Chồng Y-cơ ôm choàng lấy vợ. Mấy anh du kích mãi mới kéo được anh ta ra rồi dìu sang nhà bên. Anh Lạng phải dăm bảy lần cầm dao mới lấy được cháu bé ra. Đó là phong tục của người Mông ở vùng này. Không nỡ để cho Y-cơ nằm nửa cái võng, anh Lạng lấy võng của mình cuộn thằng bé lại.
Cho đến bây giờ, sau 41 năm, mỗi lần nhớ về cái thời hai dân tộc Việt - Lào chúng ta cùng chia ngọt sẻ bùi cho nhau để giành độc lập, hình ảnh nhau để giành độc lập, hình ảnh người thiếu nữ ấy lại chập chờn trước mắt tôi...
Hà Nội, tháng 8 năm 2009 | |
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory Moderator  Bài viết: 2335  | 
| Bên dãy Trường Sơn« Trả lời #4 vào lúc: 31 Tháng Giêng, 2022, 08:23:40 am » | VUA MẸO THAO TU
HUỲNH THÚC CẨN (Ghi theo lời kể của đồng chí Huỳnh Thúc Tuệ)
Khoảng tháng 5 năm 1947, sau khi đơn vị tham gia tiêu thổ kháng chiến ở thành phố Vinh, tôi được điều lên chiến trường mặt trận miền Tây biên giới Việt - Lào. Khu vực hoạt động của đơn vị rất rộng lớn, hầu hết là núi cao rừng rậm, suối sâu vực thẳm, có quốc lộ số 7 chạy đến Xiêng Khoảng. Phạm vi chiến đấu từ Mường Xén đến Sầm Nưa giữa hai huyện biên giới là Noọng Hét (Lào) và Tương Dương (Nghệ An), có nhiều dân tộc khác nhau sinh sống, phân tán trên các sườn núi cao hoặc ven bờ suối như người Mẹo, Thơng; người Việt, người Hoa cũng buôn bán ở các thị trấn nhỏ.
Gần ba năm hoạt động ở biên giới, tôi làm công tác chuẩn bị chiến trường, củng cố hậu phương để tạo "thế" và "lực" ở trong nhân dân, nên có dịp gặp gỡ, làm việc với cán bộ của Neo Lào Hắc Xạt như đồng chí Thao Ô, Thao Bông, Thao Sộp, Thao Ma... những cán bộ Lào có quan hệ hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ với bộ đội Việt Nam. Đặc biệt gắn bó như hình với bóng, từng đồng cam cộng khổ, lăn lộn trong vùng địch hậu, được nhân dân bộ tộc Lào tin tưởng, kẻ thù khiếp sợ, đó là đồng chí Thao Tu - Vua Mẹo Thao Tu. Sau này trở thành người lãnh đạo hay nói đúng hơn là một "lãnh tụ" của bộ tộc Lào một huyền thoại anh hùng mà bộ tộc Mẹo cả nước Lào suy tôn là Vua, là một người bạn thủy chung của Việt Nam.
Người giao liên dẫn tôi đến Mường Xén, vượt đỉnh Trường Sơn "bên nắng rát, bên mưa quây" sang Mường Long (Lào) cũng như nhiều bản Mẹo khác, dân sinh sống bằng nghề trồng thuốc phiện, chăn nuôi, săn bắn, lại có nghề rèn dao rựa và làm súng kíp nổi tiếng. Tôi tạm nghỉ tại nhà Tà xẻng Lồ Xây Chao. Hôm sau thì đồng chí Thao Tu đến gặp, đi theo có một số bộ đội và dân bản từ Noọng Hét đến, ăn mặc đồ đen, tóc dài, cổ đeo nhiều vòng bạc, vai khoác súng Mút hoặc súng Kíp, đặc biệt có nhiều người bị bệnh bướu cổ rất to. Riêng đồng chí Thao Tu có súng ngắn và dao găm dắt lưng. Đợt hiệp đồng chiến đấu này, bộ đội liên quân Lào - Việt đã chiến đấu dũng cảm, diệt nhiều địch, giải phóng được một số bản. Bọn phỉ ra đầu hàng trông như người rừng, tóc dài che cả mặt, áo quần rách nát, nhìn thấy gói muối để trên bàn, chúng thèm quá lao vào bốc cho vào miệng nhai ngon lành.
Ở xa hậu phương, nơi rừng thiêng nước độc, ốm đau, qua những lần sốt rét ác tính, cơm không có ăn, thuốc không có uống, thực đơn chỉ có rau tàu bay, bí xanh nên ai cũng xanh xao vàng vọt, riêng tôi lại bị sốt rét cách nhật, môi thâm đen nứt nẻ, tóc rụng gần hết. Lúc tôi đang lên cơn sốt nặng thì đồng chí Thao Tu đến báo quân địch đánh vào xã Mỹ Lý. Tôi vội vùng dậy xách súng hạ lệnh cho đơn vị cấp tốc hành quân nhanh chóng chiếm lĩnh trận địa, cùng bộ đội bạn xung phong lao vào diệt địch. Chúng bị diệt một số, số còn lại hoảng hốt bỏ chạy tán loạn, anh em ta mừng quá nên cơn sốt cũng phải đầu hàng trước sức mạnh tinh thần của người lính Cụ Hồ.
Sau chiến thắng, đến dự tổng kết với chúng tôi và mừng chiến thắng trận Mỹ Lý chỉ có rau và mấy củ mài. Thấy anh em thiếu thốn, đồng chí Thao Tu rơm rớm nước mắt trút một gùi gạo nếp, vài bát muối và cho một con lợn chừng 15kg. Tôi cảm ơn và lựa lời từ chốỉ vì cảm thấy bạn cũng khó khăn không kém gì ta, song đồng chí Thao Tu nói: "Các anh không nhận là chúng mình giận lắm vớ!" và nói tiếp bằng tiếng Lào "Bọ mi nhăng kin, bọ đây xút lốp", nghĩa là; không có gì ăn, không chiến đấu được đâu.
Sau đó ta và bạn chủ trương mở đợt hoạt động trong vùng Noọng Hét, Bản Ban, Nậm Mật, Nậm Tiền... Đồng chí Thao Tu nhận nhiệm vụ "vào hang bắt cọp tại sào huyệt của phỉ". Cùng đi có đồng chí Sơn Việt Húng (quân tình nguyện Việt Nam) và một vài anh em người Mẹo đã luồn sâu vào vùng địch, làm công tác vận động thuyết phục dân bản đi theo Neo Lào Hắc Xạt, không hợp tác với bọn phỉ và bọn Pháp. Dân bản nghe Thao Tu nói về âm mưu thủ đoạn của địch mà không sợ gì, lại thấy cả đoàn không ai mang theo súng, nên càng tin tưởng, phấn khởi đi theo kháng chiến. Dân bản dắt dìu nhau ra vùng tự do sinh sống, bọn phỉ cũng từng tốp ra hàng. Họ kháo nhau Thao Tu có tài thần thông biến hóa, nỏ và súng bắn không trúng, đi vào giữa quân địch như vào chỗ không người, nhịn đói nhiều ngày không hề gì, lại là tay súng "trăm phát trăm trúng".
Tình đoàn kết chiến đấu đã tô thắm tình hữu nghị của hai dân tộc, hai Nhà nước và hai quân đội nói chung và vòng tay bè bạn đã gắn kết người con gái Lào và con trai Việt thành tổ ấm chung sống hạnh phúc, đó là em gái Thao Tu kết duyên với con trai Việt là Sơn Việt Húng. Đồng chí Thao Tu làm chủ hôn và tôi được làm phù rể. Lễ cưới tuy đơn giản trong điều kiện chiến tranh thiếu thốn nhưng rất ấm áp vui vẻ. Thanh niên nam nữ và nhân dân trong bản tham gia nhảy múa uyển chuyển theo điệu Lăm vông, bài hát Lăm tơi với tiếng khèn, tiếng sáo du dương mê mẩn lòng người quanh đống lửa trại bập bùng suốt đêm thâu, bè bạn đã nâng cốc chúc mừng cô dâu chú rể trăm năm hạnh phúc.
Một thời gian sau Tết Âm lịch, địch ở Xiêng Khoảng tăng viện cho Noọng Hét đánh chiếm Mường Lống. Tôi dẫn đơn vị tập kích Mường Lống, tiêu diệt nhiều địch, thu nhiều chiến lợi phẩm.
Khi nghe tin chiến thắng, đồng chí Thao Tu từ Xiêng Khoảng xuống tận nơi chúc mừng chiến công này. Tôi tặng đồng chí Thao Tu một đôi giày da chiến lợi phẩm.
Đến năm 1953, trong chiến dịch Thượng Lào, đơn vị đã giải phóng thị xã Xiêng Khoảng, tôi được cử tham gia Ban quân quản do đồng chí Phu-mi Vông-vi-chít làm Chủ tịch. Năm 1960-1961, Tiểu đoàn 2 Pa-thét Lào do đồng chí Thao Tu chỉ huy đã mưu trí thoát vây ra khỏi Viêng Chăn, về giải phóng Cánh Đồng Chum. Sau đó Thao Tu đã mất trong một tai nạn giao thông. Đảng, Chính phủ, Quân đội Lào đã mất đi một cán bộ tài đức, dân tộc Mẹo mất đi một người anh hùng, một ông Vua sống mãi trong lòng dân. Bộ đội tình nguyện Việt Nam mất đi một người bạn thủy chung son sắt.
50 năm sau, tháng 12 năm 2003 tôi được đồng chí Bí thư Tỉnh ủy và Ủy ban tỉnh Xiêng Khoảng mời sang thăm lại chiến trường xưa. Các đồng chí dẫn tôi đến Mường Noọng Hét thăm bảo tàng và ra viếng lăng mộ đồng chí Thao Tu - vị Vua Mẹo uy danh lừng lẫy. Cả đoàn thắp những nén hương thơm mà đôi mắt nhoà lệ. Tự nhiên bát hương bốc cháy, biểu hiện sự linh thiêng của đồng chí về chứng kiến cuộc gặp gỡ của tình bạn, tình đồng chí, tình hữu nghị đoàn kết keo sơn giữa hai dân tộc kề vai sát cánh, đói no cùng chịu, thủy chung vẹn toàn. |
|
|