bền gan vững chí
Có lẽ không có một dân tộc nào mà từ thế hệ này đến thế hệ khác luôn phải gồng mình để chống lại ngoại xâm như dân tộc Việt Nam, nhưng cũng có lẽ lịch sử đã “ưu ái” cho dân tộc Việt Nam khi sản sinh ra những thế hệ con người “bền gan vững chí”. Những con người như Trung tướng, Anh hùng LLVT Dương Công Sửu và Trung sĩ Ngô Sỹ Nguyên - Pháo thủ số 1 trên chiếc xe tăng 390 là hai trong số rất nhiều con người như vậy. Được gặp gỡ, được nghe kể chuyện và giao lưu với hai nhân chứng trực tiếp tham gia chiến đấu trong chiến dịch Hồ Chí Minh của 40 năm về trước trong những ngày tháng 4 khiến cho không khí kỷ niệm ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước càng thêm ý nghĩa. TS. Vũ Mạnh Hà (phải) trao hoa cho Trung tướng, Anh hùng LLVT Dương Công Sửu (giữa) và Trung sĩ Ngô Sỹ Nguyên (trái) Hồi ức về cuộc kháng chiến của 40 năm về trước của 2 nhân chứng, là những khó khăn gian khổ, những mất mát hi sinh, đó là ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết, nhưng vượt lên tất cả chính là tinh thần đồng đội, là “sức trẻ”, là hi vọng vào ngày toàn thắng, là tinh thần “phơi phới lập công cho ngày đất nước được hòa bình”. Nhớ lại kỷ niệm trong nghiệp binh của mình Trung tướng, Anh hùng LLVT Dương Công Sửu đã kể lại một trận đánh với những trải nghiệm khó quên khi đứng giữa ranh giới sự sống và cái chết. Trận đánh diễn ra ngày 3/5/1970 khi đó lực lượng của ta đóng ở khu vực Mỏ Vẹt giáp với Campuchia. Lúc này ông giữ vai trò là Đại đội trưởng được đơn vị giao nhiệm vụ đánh 1 tiểu đoàn Ngụy ở vùng sâu, sau 2 ngày hành quân đơn vị của ông đến địa điểm. Trước khi đi vào trận đánh ông tiến hành thăm dò trận địa của địch, vượt qua 7 vòng thép gai, vào bên trong cứ 15m có 1 lô cốt cao 2m bên ngoài có hàng rào B40, 1 tiếng địch thay gác 1 lần. Ông chui qua hàng rào thì đúng lúc địch thay gác, qua 1 hàng rào khu vực là vào đến trung tâm trận địa pháo của địch thì bất ngờ địch nổ một quả mìn sáng thế là tất cả các lô cốt địch bắn xối xả. Lúc này tất cả địch đều chạy ra khỏi nhà của mình, thừa lúc đó ông chui vào bên trong và trốn ở dưới gầm giường. Một lúc sau địch quay trở về, mục đích là chờ địch đi ngủ thì sẽ chui ra, tuy nhiên mãi chúng vẫn không ngủ. Nhớ lại lúc gay cấn đó ông nói “Tôi nằm ở dưới gầm giường suốt ruột lắm, có cái đồng hồ lúc bình thường không nghe thấy gì nhưng những lúc như thế này thì 1 tiếng tích tắc cũng sợ kẻ thù nghe được”. Đợi một lúc khi địch đã ngủ ông quay trở ra an toàn. Tuy nhiên một tình huống khác cũng gay cấn không kém đó là: “khi lẻn vào, tôi mang theo một khẩu súng ngắn và một quả thủ pháo, lúc trốn ở gầm giường căng thẳng quá, quả thủ pháo rơi ra mà không biết”. Trước tình thế đó “nếu trở vào lấy quả thủ pháo thì không biết chuyện gì sẽ đến với tôi khi bị địch phát hiện?”, “nhưng nếu không lấy ra địch phát hiện có người lạ lẻn vào thì sẽ bị lộ cho cả đơn vị”. Nghĩ vậy “tôi quyết tâm trở vào và đã lấy được quả thủ pháo an toàn”. Sau khi vào xem xét trận địa pháo của địch, ngày hôm sau đơn vị ông bàn kế hoạch tác chiến, kết quả tiêu diệt được 1 xe tăng, 1 máy bay và 100 tên địch bị giết, toàn đơn vị được bảo toàn lực lượng. Một kỷ niệm nữa khiến ông nhớ mãi đó chính là tình đồng chí, đồng đội, là tinh thần thép, là niền tin cho ngày thống nhất. Trận đánh diễn ra trên chiến trường Tây Nguyên, ông khi đó là lính tham gia đánh vào tiểu đoàn địch trên núi Chư Đăng Ya, trước trận này anh em hi sinh nhiều, ở trên trời máy bay địch vận động chiêu hồi: “các sĩ quan Bắc Việt vào đây gian khổ hãy về với chính phủ quốc gia…”. Mặc dù tinh thần của anh em lúc nào cũng khí thế, tuy nhiên nhìn thấy cảnh đồng đội từng sống bên mình ngã xuống mà không làm được gì thì ai cũng bất lực và lo lắng. Nhưng trước khi trận đánh diễn ra, đồng chí Chính trị viên tiểu đoàn đã đến động viên và nói: “đánh nhau hi sinh thì có hi sinh nhưng không thể chết hết được, tôi tin trong số những người ngồi đây thế nào đến ngày thắng lợi cũng sẽ có những đồng chí huân chương chiến công đầy ngực”, nhưng không ngờ trận sau đồng chí đó hi sinh. Giọng ông chùng xuống, ông nói: đến ngày đất nước được giải phóng và những ngày sau đó tôi mới thấm thía lời nói của đồng chí chính trị viên kia. Hình ảnh gắn liền với thắng lợi trong ngày 30/4/1975 đó chính là chiếc xe tăng 390 húc đổ cánh cửa Dinh độc lập, một trong những chiến sĩ trên chiếc tăng 390 ngày ấy là Trung sĩ Ngô Sỹ Nguyên - Pháo thủ số 1, giờ đây sau 40 năm khi kể lại cảm xúc của ông dường như còn rất mới. Ông kể: Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, đơn vị ông được lệnh phục sẵn ở tây Huế, ngày 20/3/1975 khi nghe tin quân ta đang trên đà thắng lớn ở Tây Nguyên, đơn vị ông được lệnh xuất kích, tiến theo đường Đông Nam Khe Tre đánh một số điểm như: Núi Bông, Núi Nghệ…để xuống cắt đường 1 Huế - Đà Nẵng, tiến thẳng ra giải phóng Huế. Sau đó lại được lệnh ra cửa Thuận An chặn đường rút chạy của địch. Đêm 28/3 đơn vị ông được lệnh vượt đèo Hải Vân để cùng với các cánh quân phía Tây và trong Tam Kỳ đánh ra để giải phóng Đà Nẵng. Ở Đà Nẵng lúc này Tướng Ngô Quang Trưởng cù



