BÊN NHỮNG MÂM CƠM HOÀ BÌNH
Lắng đọng những khoảng trống chiến tranh và vòng tay yêu thương của cộng đồng


Một mâm cơm, nhiều khoảng trống
Trong gian nhà nhỏ ở thôn Trường Mỹ (xã Chiên Đàn, TP Đà Nẵng), bà Nguyễn Thị Thu (SN 1954) lặng lẽ chuẩn bị bữa cơm cho riêng mình. Căn bếp gọn gàng, sân vườn sạch bóng như thói quen bà vẫn gìn giữ suốt nhiều năm qua. Mâm cơm hôm nay cũng như bao ngày khác: Một người ăn - một chén cơm - một đôi đũa.
Người phụ nữ từng mang bí danh Kim Liên đã “làm bạn bao năm” với sự tĩnh lặng. “Quen rồi”, bà cười hiền lúc được hỏi có buồn không khi chỉ sống một mình. Hai tiếng giản đơn ấy cất lên nhẹ tênh nhưng phía sau là cả một cuộc đời nhiều giông bão…

Trong căn bếp nhỏ vắng tiếng người thân, bà Nguyễn Thị Thu lặng lẽ chuẩn bị bữa cơm trưa cho riêng mình. Tấm lưng còng mang theo những di chứng còn sót lại từ những năm tháng lao tù.
Năm 1969, khi chưa tròn 16 tuổi, bà Thu bị địch bắt vì làm giao liên. Những năm tháng bị giam giữ tại lao tù Quảng Tín rồi đưa đi Thủ Đức là chuỗi ngày khắc nghiệt mà bà chưa từng quên. Trong những gian phòng giam chật chội, 50 người chen chúc nhau, bà cùng các bạn tù bị còng chân từng cặp, chịu cảnh đói rét, thiếu thốn và những đợt biệt giam kéo dài chỉ với cơm trắng cùng muối hầm...
Không chỉ dùng đòn roi, địch còn tìm mọi cách lung lạc tinh thần những người tù trẻ tuổi. Bà nhớ như in lần chúng dí súng vào đầu rồi quát lớn: "Sao không chịu làm việc cho tụi tao?”

Ánh mắt bà Nguyễn Thị Thu chùng xuống, ngấn lệ khi hồi tưởng những ngày bị giam cầm, tra tấn và chứng kiến đồng đội hy sinh ngay trước mắt.
Trước họng súng quân thù, khi nhiều lần bị ép học chính trị, tiếp nhận luận điệu tuyên truyền của địch, cô giao liên tuổi thiếu niên vẫn kiên định: "Thà chết chứ không phản quốc!"

Đôi bàn tay co quắp, các khớp ngón biến dạng là dấu tích còn hiện hữu sau những trận đòn tra tấn mà bà Thu từng trải qua trong chiến tranh.
Sự gan góc ấy phải đánh đổi bằng những thương tích theo bà suốt cuộc đời. Những lần bị kẹp ngón tay, bị ép đè lưng lên cạnh bàn rồi chọc mạnh vào sườn để khai thác thông tin đã khiến cột sống bà tổn thương nghiêm trọng.
Đôi bàn tay co quắp, tấm lưng còng cùng những cơn đau nhức dai dẳng mỗi khi trái gió trở trời hôm nay chính là dấu tích còn sót lại của một thời tuổi trẻ đã đi qua trong ngục tù vẫn giữ lòng trung thành son sắt với Tổ quốc.
Cách đó không xa, trong căn nhà đã nhuốm màu thời gian ở thôn Khánh Thịnh (xã Chiên Đàn), bà Ninh Thị Diệu vẫn lặng lẽ chuẩn bị bữa trưa như bao ngày. Dù đã ngoài 85 tuổi, bà vẫn giữ thói quen tự đi bộ ra ngã ba đầu đường mua thức ăn rồi trở về nhóm bếp, nấu nướng. Mỗi ngày của người phụ nữ ấy trôi qua bình dị với việc quét sân, chăm đàn gà và chuẩn bị những bữa cơm đạm bạc.

Bên miếng trầu, bà Ninh Thị Diệu chậm rãi kể lại những ngày tuổi trẻ âm thầm tiếp tế lương thực cho lực lượng kháng chiến.
Nhìn dáng còng của bà tất bật với những công việc không tên thường nhật, ít ai biết rằng phía sau cuộc sống yên ả ấy là một thời tuổi trẻ đầy gian truân. Những năm kháng chiến, bà từng bị địch bắt vì tiếp tế lương thực cho lực lượng du kích. Trong nhà lao quận, người phụ nữ nhỏ bé phải chịu nhiều trận đòn tra tấn, bị treo ngược người và đánh đến sưng tím hai bên đùi nhưng quyết không khai báo.

Người nữ tù yêu nước năm nào vẫn đều đặn nhóm lửa, nấu nướng trong căn bếp cũ, lặng lẽ đi qua tuổi già với những ký ức chưa bao giờ phai nhạt.
Chiến tranh qua đi, người chồng mãi không về, để lại cho bà danh hiệu vợ liệt sĩ và những tháng năm sống trong nhung nhớ. Người con gái duy nhất nay đã có gia đình riêng, còn bà vẫn gắn bó với căn nhà cũ và nếp sinh hoạt quen thuộc.

Nồi cơm xới hạt mít thơm lừng nhưng chỉ một đôi đũa, một chén cơm, một người ăn.
Trên mâm cơm mỗi ngày chỉ còn một người ngồi ăn, nhưng ở đó vẫn thấp thoáng bóng hình của những người thân yêu đã ra đi vì hai tiếng hòa bình. Có lẽ vì thế mà mỗi bữa cơm không chỉ là câu chuyện của hiện tại, mà còn là cuộc gặp gỡ lặng lẽ với ký ức của một thời không thể nào quên.
Tiếp đến với Trung tâm Phụng dưỡng người có công cách mạng thành phố Đà Nẵng (cơ sở 2, phường Hội An Tây, TP Đà Nẵng), bà Nguyễn Thị Xuân Hồng (75 tuổi) lặng lẽ ngồi vào bàn ăn cùng những thương binh, bệnh binh, người thân liệt sĩ đã gắn bó với nơi này suốt hàng chục năm. Mâm cơm ở trung tâm luôn đủ đầy hơn những ngày chiến trận, nhưng với bà, mỗi bữa ăn vẫn gợi về một quãng đời không thể nào quên.

Thương binh đặc biệt (82%), Nguyễn Thị Xuân Hồng, dù mang trên mình chấn thương sọ não và 3 vết đạn còn găm trong cơ thể qua các trận đánh ác liệt vẫn kiên cường cống hiến trọn vẹn sức trẻ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Đôi vai nay đã còng xuống theo tuổi tác, bước chân chậm hơn bởi thương tật và trong cơ thể người nữ chiến sĩ năm nào vẫn còn ba mảnh đạn găm nơi lưng, vai, cả vết thương sọ não chưa bao giờ thôi nhức buốt mỗi khi trái gió trở trời. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, những mảnh đạn ấy vẫn lặng lẽ nhắc bà về một thời tuổi trẻ gửi lại nơi chiến trường...

Những năm tháng chiến đấu quả cảm của cô gái xứ Quảng năm ấy từng lay động nhiều người. Sau lần được ra Hà Nội dự Đại hội Chiến sĩ thi đua toàn quốc và gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bác đã dành tặng bà bài thơ như một lời tri ân đối với người con gái Quảng Đà kiên trung.

Bài thơ Bác Hồ tặng nữ chiến sĩ thi đua yêu nước Nguyễn Thị Xuân Hồng.
Ba người phụ nữ, ba cuộc đời với ba số phận khác nhau nhưng đều gặp nhau ở một mâm cơm đầy khoảng trống. Thế nhưng đó không phải là sự nghèo nàn về vật chất, mà là khoảng trống của những người thân yêu đã hòa vào đất mẹ. Đó là những mâm cơm được đổi bằng sự kiên trung “không phản quốc”, thà "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh" trước họng súng quân thù.
Nghĩa tình đong đầy những mâm cơm
Chiến tranh để lại những khoảng trống không dễ lấp đầy. Tuy nhiên điều khiến những người phụ nữ ấy có thể đi qua tuổi già bình thản hơn không chỉ là nghị lực của bản thân, mà còn bởi quanh họ vẫn còn những bàn tay âm thầm nâng đỡ.
Ở thôn Khánh Thịnh, căn nhà của bà Ninh Thị Diệu tuy đã xuống cấp, mái ngói dột nát mỗi khi mùa mưa bão đến, khiến bà không khỏi lo âu: “Giờ chỉ mong góp ghém được ít tiền để sửa lại cái mái cho chắc chắn, ngủ cho yên giấc”.

Dưới mái nhà đã nhuốm màu thời gian, bà Diệu mong có thêm sự đồng hành của chính quyền và các tổ chức để yên tâm hơn trong những năm tháng tuổi già.
Thế nhưng, bà chưa bao giờ cảm thấy bị bỏ rơi. Bởi xung quanh nữ tù yêu nước năm nào, anh em ruột thịt và bà con lối xóm sống san sát nhau. Bà Diệu hân hoan khoe: “Ở đây hàng xóm đông đúc lắm, tối lửa tắt đèn có nhau. Có củ khoai, bó rau, bát canh cũng gọi nhau, lúc đau ốm là cả xóm xúm lại lo, nên già này ở một mình mà không thấy tủi”.

Những câu chuyện đầu ngõ, những lần sang nhà hỏi han của hàng xóm láng giềng đã trở thành nguồn động viên giúp bà Ninh Thị Diệu vơi bớt sự lặng lẽ của tuổi già.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Mâm cơm một mình của bà Diệu vì thế luôn được “nấu thêm” bằng những bát canh tình nghĩa, những câu chuyện chia nhau miếng trầu đầu ngõ của những người hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau.

Ngày Thương binh - Liệt sĩ, mâm cơm nơi nhà bà Diệu không chỉ thêm món ăn, thêm bát đũa mà còn đầy ắp sự sẻ chia và lòng tri ân của cộng đồng.
Sự bù đắp ấy cũng hiện hữu rõ nét trong cuộc sống thường ngày của bà Nguyễn Thị Thu. Sống một mình trong căn nhà luôn được quét dọn gọn gàng, bà Thu vẫn giữ thói quen chăm chút từng góc sân, lối ngõ bởi bà không muốn nhìn thấy cảnh cây cối ngổn ngang hay rác rến bừa bộn, dễ gợi đến ký ức hoang tàn của những năm tháng chiến tranh.
Chị Ninh Thị Ánh Nguyệt, con gái bà Thu, cho biết dù đã lập gia đình và ra ở riêng nhưng hầu như cuối tuần nào chị cũng trở về thăm mẹ. Điều khiến chị yên tâm nhất là tình cảm chân thành của những người sống quanh nhà.
“Mẹ tôi ở một mình sau khi bố bạo bệnh qua đời nhưng chưa bao giờ đơn độc. Hàng xóm ai cũng thương và quý mẹ. Có hôm mẹ đau lưng không đi lại được, bà con đã sang đỡ đần từ sớm, người mua thức ăn, người hỏi han thuốc thang, rồi gọi mấy chị em chúng tôi về chăm. Nhiều việc tôi còn chưa kịp biết thì cô bác xung quanh đã giúp mẹ rồi. Chính sự quan tâm đó khiến chúng tôi rất ấm lòng”, chị Nguyệt chia sẻ.

Tiếng cười hồn nhiên của đứa cháu nhỏ những ngày nghỉ hè mang đến sự rộn ràng, làm ngôi nhà của bà Thu thêm ấm áp và vui tươi.
Mỗi dịp hè, tiếng cười trong trẻo của đứa cháu ngoại vừa học hết lớp 1 về chơi lại làm ngôi nhà thêm rộn rã. Cùng với sự thăm hỏi, động viên của chính quyền và các đoàn thể vào những ngày lễ, Tết hay ngày 27/7, căn nhà nhỏ của bà Thu dường như được lấp đầy bởi những vòng tay yêu thương, xua đi phần nào sự tĩnh lặng của tuổi già và những khoảng trống mà chiến tranh để lại.
Còn với bà Nguyễn Thị Xuân Hồng, khoảng trống của chiến tranh lại được bù đắp theo một cách khác. Suốt hơn 45 năm sống tại Trung tâm Phụng dưỡng người có công cách mạng thành phố Đà Nẵng, người nữ thương binh đặc biệt nặng ấy xem nơi đây như ngôi nhà thứ hai của mình.

Trung tâm Phụng dưỡng người có công cách mạng thành phố Đà Nẵng là ngôi nhà thứ hai của bà Hồng và hơn 80 thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ...
Nhắc đến cuộc sống nơi đây, ánh mắt người nữ chiến sĩ từng 3 năm liền đạt danh hiệu Chiến sĩ thi, sở hữu 1 bằng Dũng sĩ diệt Mỹ cấp một, 1 bằng Dũng sĩ diệt Mỹ cấp hai, 3 Huân chương Chiến công với 55 tuổi Đảng chợt dịu lại. Bà bảo mình vào trung tâm từ những ngày đầu thành lập, khi nơi này chỉ có vài người được phụng dưỡng. Ngần ấy năm gắn bó đủ để bà coi từng hàng cây, dãy nhà và cả những cán bộ, nhân viên nơi đây là một phần của gia đình.

Bên cạnh bà Hồng và những người có công với cách mạng tại trung tâm luôn có những y bác sĩ, điều dưỡng và nhân viên lặng lẽ chăm sóc như những người thân ruột thịt.
“Cán bộ, bác sĩ, y tá ở đây chăm sóc chu đáo lắm! Từ ban giám đốc đến hộ lý, ai cũng tận tình như người thân. Có nhiều hôm đứng nhìn các cô điều dưỡng tắm rửa, thay quần áo cho những bác thương binh nằm một chỗ, tôi xúc động đến rơi nước mắt. Ở đây ai cũng sống vì nhau!”, bà Hồng xúc động chia sẻ.
Mỗi bữa cơm ở trung tâm vì thế không đơn thuần là bữa ăn được chuẩn bị đầy đủ dinh dưỡng. Đó còn là bữa cơm của sự sẻ chia, nơi những thương binh, bệnh binh cùng quây quần bên nhau, kể chuyện một thời trận mạc, hỏi han nhau từng cơn đau, từng giấc ngủ.
Đặc biệt, mỗi dịp Tết đến hay ngày 27/7, khuôn viên trung tâm lại rộn ràng hơn bởi những đoàn công tác, những tổ chức, đoàn thể, học sinh, sinh viên đến thăm hỏi, tặng quà và dùng bữa cùng các bác, các cô chú. Những lời thăm hỏi, những cái nắm tay, những bữa cơm nghĩa tình khiến bà cảm nhận sâu sắc rằng sự hy sinh của thế hệ mình chưa bao giờ bị lãng quên.
“Tôi là thương binh, trong người còn mấy mảnh đạn nên đau lắm! Nhưng ở đây ai cũng động viên, chăm sóc. Mình sống vui, sống khỏe để làm gương cho con cháu. Có được cuộc sống bình yên như thế này là tôi mãn nguyện một đời rồi”, bà Hồng mỉm cười.
Khi cộng đồng trở thành gia đình
Vượt lên trên ý nghĩa của những bữa ăn thông thường, câu chuyện của 3 người phụ nữ từ mảnh đất xứ Quảng kiên trung đã nâng tầm giá trị của hai tiếng "gia đình" theo một nghĩa rộng lớn và sâu sắc hơn. Gia đình giờ đây không chỉ gói gọn trong mối quan hệ huyết thống, ruột rà, mà đã mở rộng thành tình đồng chí, nghĩa đồng bào, nơi cả xã hội trở thành một “gia đình lớn” để cùng ôm ấp, chở che và tri ân những người đã gánh chịu mất mát cho dân tộc.

Không chỉ có người thân ruột thịt, những người hàng xóm, đoàn thể và cộng đồng hôm nay đã cùng nhau vun đắp nên một mái nhà chung của nghĩa tình và sự sẻ chia với bao gia đình chính sách.
Bà Nguyễn Thị Thu, sau những năm tháng tủi hờn trong ngục tù, từng một mình đứng ra lo toan hương hỏa, thờ cúng cho người anh chồng là liệt sĩ. Đến năm 1990, khi người vợ của liệt sĩ từ Hải Phòng vào tìm, bà Thu đã thanh thản bàn giao lại bằng Tổ quốc ghi công và bàn thờ để gia đình đưa từ Trung ra Bắc chăm lo.

Trong ngôi nhà luôn được chăm chút gọn gàng, bà Nguyễn Thị Thu lặng lẽ tận hưởng cuộc sống bình yên từ sự tự lập của bản thân và những chính sách tri ân của Nhà nước dành cho người có công.
Dù hiện tại cô quạnh một mình, bà Thu vẫn trọn vẹn nghĩa tình với tổ tiên. Sự thanh thản trong tâm hồn của bà hôm nay, bên cạnh sự tự lập, chính là nhờ người phụ nữ ấy luôn cảm nhận được dòng chảy nghĩa tình của dòng tộc và sự tri ân của chính quyền, Nhà nước thông qua chế độ thương binh, lương tù đày hằng tháng.
Sự mở rộng của định nghĩa hai tiếng “gia đình” cũng là điều mà bà Ninh Thị Diệu hằng cảm nhận được. Dẫu sống một mình trong căn nhà đã xuống cấp theo năm tháng, bà Ninh Thị Diệu luôn giữ gìn cẩn thận những kỷ vật gắn với cuộc đời mình.

Những tấm bằng mừng thọ được bà Ninh Thị Diệu gìn giữ cẩn thận như món quà tinh thần, chứa đựng sự quan tâm và trân trọng của cộng đồng dành cho mình.
Trong chiếc tủ kính nhỏ giữa nhà, những giấy khen, bằng mừng thọ 80 tuổi, 85 tuổi được bà xếp ngăn nắp, phẳng phiu như một cách nâng niu những sự ghi nhận của xã hội dành cho mình. Trên bức tường chính, tấm Bằng Tổ quốc ghi công của người chồng liệt sĩ được treo ở vị trí trang trọng nhất. Dưới bàn thờ gia tiên, những giấy khen, huân huy chương của ông vẫn được bà đặt ngay ngắn, sạch sẽ, như thể người chồng năm xưa vẫn còn hiện diện đâu đó trong ngôi nhà này.

Tấm kỷ niệm chương được bà Diệu treo trang trọng trên tường là minh chứng cho một cuộc đời kiên trung đã đi qua chiến tranh và mất mát.
Những tấm giấy đã ngả màu thời gian ấy không đơn thuần là vật lưu niệm. Chúng là minh chứng cho một cuộc đời đã đi qua chiến tranh với biết bao mất mát; là lời tri ân đối với người liệt sĩ đã ngã xuống, những người phụ nữ từng chịu bao trận đòn roi, bao lần bị treo ngược trong nhà giam nhưng vẫn một lòng son sắt với cách mạng và cũng là điểm tựa tinh thần để nữ tù yêu nước ấy cảm nhận rằng những hy sinh của gia đình mình chưa bao giờ bị lãng quên.

Mỗi dịp Tết đến xuân về hay ngày Thương binh - Liệt sĩ, những đoàn viên, thế hệ tiếp nối sẽ ghé thăm, ngồi nghe những câu chuyện một thời khói lửa, cống hiến quên mình cho Tổ quốc của những người có công, những gia đình chính sách neo đơn.

Cái nắm tay ấm áp trao truyền những giá trị anh hùng của một dân tộc, những đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", "Đền ơn đáp nghĩa" của người có công và thế hệ tiếp nối.
Sau cánh cổng của trung tâm, những người từng đi qua chiến tranh không chỉ được chữa lành những vết thương trên cơ thể mà còn được sưởi ấm bởi tình người.
Những bữa cơm đủ đầy dinh dưỡng, những lời hỏi han mỗi sáng, cái nắm tay của người điều dưỡng hay tiếng cười trong các buổi sinh hoạt chung đã giúp nhiều người có công vơi đi cảm giác cô quạnh của tuổi già.

Những cuộc gặp gỡ với các nhân chứng lịch sử, đến thăm hỏi, dọn dẹp nhà cửa, nấu nướng rồi cùng trò chuyện với các gia đình chính sách... giúp thế hệ trẻ hiểu hơn giá trị của hòa bình và tiếp nối truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc.
Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ, những mâm cơm của nữ tù yêu nước Nguyễn Thị Thu, Ninh Thị Diệu, nữ thương binh Nguyễn Thị Xuân Hồng và rất nhiều người bà, người mẹ, người phụ nữ có công với cách mạng khác… có thể vẫn khuyết đi những bóng hình ruột thịt. Nhưng bằng sợi dây thắt chặt của tình người, của lòng biết ơn và sự sẻ chia từ cộng đồng, những bữa cơm ấy chưa bao giờ thiếu vắng yêu thương.
Bởi sau tất cả, điều làm nên hơi ấm của một gia đình không phải là sự đủ đầy của món ăn mà là sự hiện diện của nghĩa tình. Và thứ nghĩa tình ấy vẫn đang được cộng đồng âm thầm giữ lửa, ngày này qua ngày khác, như cách đất nước tri ân những người đã dành cả tuổi xuân cho hòa bình này.



