Bí mật những chiến dịch không kích của Mỹ vào Bắc Việt Nam
Bị thua đau trên chiến trường miền Nam, đế quốc Mỹ đã vạch kế hoạch tiến công miền Bắc để ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam. Đêm 4 rạng 5/8/1964 Mỹ dựng lên "Sự kiện vịnh Bắc Bộ " vu cáo ta tấn công tàu Mỹ trên vùng biển quốc tế. Trưa 5/8/1964 Mỹ mở cuộc tiến công “Mũi tên xuyên" sử dụng 64 lần /chiếc máy bay hiện đại từ hai tàu sân bay ném bom một số địa điểm trên miền Bắc, mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân vào miền Bắc lần thứ nhất. Ngay trận đầu, quâ
Oriskany là một trong 3 chiếc hàng không mẫu hạm có sự hỗ trợ của lực lượng không quân xuất phát từ các căn cứ trên đất liền ở Thái Lan và miền Nam Việt Nam được Washington giao nhiệm vụ tiến hành cuộc chiến trên không đối với miền Bắc Việt Nam để - theo như tuyên bố chính thức của chính phủ Mỹ - đưa cuộc chiến trên bộ ở miền Nam Việt Nam đến một kết thúc có lợi buộc miền Bắc Việt Nam chấm dứt sự "hung hăng” của họ ở miền Nam hoặc ít ra - khi thời gian trôi qua và chiến tranh không còn là từ phổ biến ở nước Mỹ nữa - buộc những nhà lãnh đạo ở Hà Nội chấp nhận những điều khoản đã được đàm phán. Sau khi các quan chức chính phủ Mỹ tranh luận về chiến lược và mục tiêu, sau khi họ trao đổi và xem xét lại các điều khoản giao kèo và trao đổi về cách thức hợp lý nhất và tốt nhất để gây áp lực đối với Hà Nội buộc Hà Nội phải chấp thuận mọi điều khoản do chính phủ Mỹ đưa ra thì những viên phi công Mỹ trong bộ quân phục của sĩ quan hải quân của phi đội 162 sẽ thi hành mọi mệnh lệnh của Washington và ném bom xuống miền Bắc Việt Nam. Cuộc không kích chính dự kiến vào buổi trưa ngày 17/6/1966 nhắm vào cây cầu giao thông đường sắt tại Cổ Chai (1) cách Hà Nội 25 dặm về phía nam và các viên phi công của phi đội 162 tham gia vào cuộc không kích sẽ phải làm quen các mục tiêu trên toạ độ bản đồ trước khi cuộc họp ngắn chính thức bắt đầu trong phòng tác chiến không quân. Là một điểm chuyển giao trên tuyến đường sắt dẫn vào miền Nam, Cổ Chai được bảo vệ chặt chẽ bởi hệ thống tên lửa và trận địa pháo phòng không và là mục tiêu quan trọng số một đối với các phi công của hàng không mẫu hạm Oriskany kể từ khi họ đến Yankee Station 11 ngày trước đó. Một bản đồ điện tử đặt trước phòng chuẩn bị thể hiện những mức độ cận cảnh khác nhau về miền Bắc Việt Nam.
Hơn một năm trước khi chiến dịch ném bom bắt đầu vào ngày 2/3/1965, nông dân chiếm 80% tỷ lệ lao động ở miền Bắc và nông nghiệp chiếm gần một nửa GNP khoảng 1,5 tỷ đô la, không bằng một nửa thu nhập hàng năm của một trong những công ty của Mỹ. Ở một đất nước có 19 triệu dân này, trồng lúa là vụ mùa chính và vì lúa rất cần một lượng nước lớn trong giai đoạn đầu phát triển nên khung cảnh mà phi công Mỹ nhìn từ trên máy bay, từ phía Đông, là những cánh đồng lúa xanh ngát, nước được chia tách bởi những mương đất trông giống như các ô bàn cờ. Bên cạnh đó là những con đê được đắp bằng tay để giữ nước cho ruộng lúa và có những mương để tháo nước cho ruộng lúa. Những con đê đó còn có tác dụng bảo vệ những vụ lúa chuẩn bị thu hoạch khỏi lũ lụt do những con sông trong vùng Bắc Bộ gây ra vào mùa mưa khi 85% lượng mưa của cả năm trút xuống vào mùa này (từ tháng 11 - tháng 5). Phân bón là điều quan trọng thứ hai sau nước tưới đối với trồng lúa và do thiếu phân hoá học nên phân người và phân gia súc dùng để bón ruộng gây ra một mùi hôi rất khó chịu bốc lên từ đất ruộng mà nông dân Việt Nam không để ý nhưng phi công Mỹ nào phải nhảy dù ra khỏi máy bay bị trúng pháo phòng không của quân đội Việt Nam sẽ nhận ra ngay tức thì. Trong những ruộng lúa có đôi chỗ nhô ra những núi đá vôi và những gò đất trông rất lạ mắt. Đồng bằng sông Hồng từ phía Bắc sang phía Tây đều có núi vây quanh những khu rừng lớn.
Mặc dù nền kinh tế của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà còn kém phát triển nhưng hệ thống phòng không được sự giúp đỡ của các đồng chí, bạn bè từ Liên Xô và Trung Quốc đặt ở các chiến hào trên ruộng lúa thì không lạc hậu một chút nào.
Tên lửa điều khiển SAM 2 của Liên Xô, dài 35 feet và mang một đầu đạn nặng 349 poud, phát nổ như một quả cầu lửa có thể nhìn thẳng từ khoảng cách xa đến hàng dặm. Số lượng các đơn vị tên lửa bắt đầu tăng dần từ năm 1966. Mỗi đơn vị tên lửa có 6 tên lửa cùng với radar, computer và máy phát điện. Việc lắp đặt rất cơ động để có thể di chuyển tên lửa đến một vị trí mới trong 24 giờ và các tên lửa được luân chuyển vị trí cho nhau trong khoảng 300 vị trí khác nhau.
Tên lửa SAM gây cho các phi công sự sợ hãi về mặt tâm lý vì bạn nhìn thẳng những tên lửa đó đang lao về phía máy bay của bạn, càng ngày càng gần nhưng hoả lực của pháo cao xạ mới đóng vai trò tích cực hạ gục máy bay Mỹ. Mỗi tháng có khoảng 7000 quả đạn pháo được bắn đi bằng khoảng 18 tấn đạn nhắm vào các máy bay Mỹ(?). Hơn nữa, tất cả những phi công Mỹ đều có linh cảm rằng mọi dân quân ở miền Bắc, từ những cô gái trẻ đến những cụ già, có một khẩu súng trường sẵn sàng nhả đạn khi họ bay qua.
Phòng chuẩn bị số 4 treo đầy những bộ đồ bay còn đẫm mồ hôi trên tường không khác gì mấy căn phòng tập thể dục khép kín là phòng họp của phi đội và phòng gia đình của các phi công của phi đội 162, nơi của các kế hoạch của những chiến dịch ném bom được thuyết trình và yêu cầu từng thành viên của phi đội phải thực hiện một cách chính xác và cũng là nơi các bộ phim của Hollywood được trình chiếu vào buổi tối cũng là một hình vẽ của chòm sao. Bên trong phòng có 16 chiếc ghế lái bọc da màu nâu, vừa cứng vừa cũ. Trên bức tường chính là hê thống bản đồ và màn hình. Một màn hình TV 23 inh nối trực tiếp với mạch đóng của con tàu hiển thị những chuyến cất cánh và hạ cánh của các phi công trên boong tàu nằm về bên phải của căn phòng. Ở giữa bình tròn đựng cà phê và can nước lọc 10 lít là một hình hình đầu lâu trạm trổ bằng gỗ. Hầu hết các phi đội không quân hải quân đều có biệt hiệu như một yếu tố kích thích tinh thần dũng cảm và phi đội 162 lấy biệt hiệu là "hunter" - kẻ đi săn - mặc dù các thành viên của phi đội đã viết thư cho Charler Salulz, tác giả của tập truyện tranh hài "peaunts", để được phép lấy hình của nhân vật Snoopy làm phù hiệu của phi đội in lên đuôi máy bay.
Buổi sáng ngày 16/7/1966, Richard Bellinger, chỉ huy trưởng của phi đội 162, là người đầu tiên bước vào phòng chuẩn bị số 4. Bellinger thấy khó chịu khi thấy chiếc giường gấp chưa có người dọn dẹp mà các sĩ quan cấp dưới đã ngủ trực đêm qua đã bỏ đi đâu đó. Phòng chuẩn bị, không giống như phòng cá nhân của các sĩ quan cấp dưới, được lắp điều hoà nhiệt độ và những viên phi công trẻ luôn tận dụng cơ hội để ngủ ở đây. Đêm hôm trước, các hành lang của tàu Oriskany đều để nhiệt độ 940F vào lúc 10 giờ tối. Bellinger bắt tay vào dọn lại chiếc giường xếp thì Rick Adams, một sĩ quan cấp dưới đã ngủ trên một trong hai chiếc giường đó, vừa đi ăn sáng về và dọn lại chỗ mình nằm.
Bellinger không thể tức giận với Rick Adams được lâu Bellinger đã lập gia đình nhưng không có con và Rick Adams là chàng thanh niên 25 và Bellinger hầu như coi cậu là con trai của mình. Các phi công hải quân luôn bay theo đội hình hai để giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau, thông thường là một sĩ quan cao cấp bay cùng với một sĩ quan cấp dưới và Rick Adams trở thành bạn bay của Bellinger ở trận không kích đầu tiên của tàu Oriskany vào năm 1965. Adams bỏ học ngang chừng trường đại học Minnesota sau khi đã học khoa triết học được 3 năm và dành thời gian trượt tuyết ở Aspen trước khi đâm đơn tham gia chương trình huấn luyện sĩ quan phi công hải quân. Trong một trận không kích gần Hà Nội, Rick Adams bình tĩnh gọi bộ đàm cho Bellinger: "Này Belly, nhìn đằng sau kìa?" Bellinger nhìn lại vừa lúc thấy hai tên lửa đang phóng về phía mình. Bellinger lượn một vòng gấp và hai tên lửa của Bắc Việt Nam vụt qua. Bellinger nói với Adams rằng: "Chắc cậu thấy thích phải không?" Chuyến bay đó gắn kết tình bạn của hai người và kết thúc trận không kích đó, Bellinger trở thành sĩ quan chỉ huy mới của phi đội có quyền gọi 6 phi công tham gia cuộc không kích năm 1965 để chuẩn bị cho cuộc không kích năm 1966 và Adams là người đầu tiên mà Bellinger chọn. Những người còn lại được gửi đi học chiến thuật bay ở các trung tâm không quân hải quân ở Mỹ và phi đội có sự gia nhập của các thành viên mới như Dick Uyliam và John (Black Mac) MacDonald, những người này cùng với Rick Adams được biết đến như những phi công giỏi nhất của Yankee Station.


