Bài viết

BIỆT GIAM

An Giang26/06/2026BAN LIÊN LẠC TÙ BINH VIỆT NAM (ĐOÀN THANH NIÊN ĐẶC KHU PHÚ QUỐC)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

BIỆT GIAM

Trong tác phẩm Trại giam tù binh Phú Quốc – Những trang sử đẫm máu (1967 – 1973) của tác giả Trần Văn Kiêm (1) và tác phẩm Đây các nhà tù Mỹ - ngụy của tác giả Trần Thanh Phương đã nêu khá chi tiết về biệt giam, về những tội ác mà địch đã áp dụng đối với tù binh. Những nội dung trên khá trùng hợp với ý kiến của những nhân chứng mà chúng tôi đã gặp gỡ: Khoảng giữa năm 1968, khi phong trào đấu tranh của tù binh lên cao, địch lấy hai khu B2 và A6 làm khu biệt giam. Trong phân khu, chúng cho rào cách ly từng cụm ba phòng hoặc cách ly từng phòng, có chế độ kiểm soát thật gắt gao, tù binh thường xuyên bị phạt vạ, bị đánh đập hết sức tàn nhẫn.

Sau khi các huấn thị chuyển hướng và phân loại tù binh và huấn thị ấn định các tiêu lệnh điều hành trại giam được ban hành, Bộ Chỉ huy Trại giam tù binh Phú Quốc cho lập các biệt giam ngoài phân khu, đặt ở khu đất trống giữa hai liên phân khu A+B và C+D. Có bốn biệt giam ngoài phân khu là biệt giam khu 2, biệt giam khu 3, biệt giam khu 5 và biệt giam khu 6 gọi tắt là biệt giam 2, biệt giam 3, biệt giam 5 và biệt giam 6.

Tờ Lao tù số 3, phát hành ngày 14-3-1971, viết: “Ở Phú Quốc có bốn biệt giam: 2, 4, 5, 6. Biệt giam cất cách trại khá xa, dây kẽm gai giăng tứ phía, ngăn cách mọi sự liên lạc với bên ngoài. Mỗi biệt giam là một nhà hành xác khổng lồ, vì những tù nhân nằm ở đây chỉ còn da bọc xương. Biệt giam không hơn gì chuồng cọp, ở đây mỗi ngày chỉ ăn một vắt cơm và uống một lọn sữa bò nước nên phải uống thêm nước tiểu cho đỡ khát. Ấy thế, mỗi khi phát cơm, phát nước cai tù còn đập bừa bãi lên người tù. Bực tức quá, anh em phản đối thì lập tức những tên cai tù đè xuống cạy răng ra đút càng ma trắc vào miệng, lấy tay đánh mạnh làm rụng một lượt nữa hàm răng. Nhiều anh em thoát khỏi nhà tù Phú Quốc, hàm răng không còn nguyên vẹn”.

Nói đến sự chật chội của biệt giam thì không thể tưởng tượng được. Mỗi biệt giam dài 9 mét, ngang ba mét thường xuyên nhốt từ 120 đến 180 người, đứng còn chật huống chi nằm hoặc ngồi. La đái một chỗ. Nước mưa tràn vào (vì nóc lợp không kín) nên phân tràn ra, mùi hôi thối nồng nặc. Có một số người nổ con mắt, số lớn bị mù sau thời gian dài ở biệt giam.

Tại biệt giam, địch lấy bùng nhùng quây nhiều lớp, trên lợp nhà dù, anh em phải nằm dưới đất, không có chiếu, mùng, mền. Trong bốn khu biệt giam thì biệt giam 2 là biệt giam ác liệt nhất.

Biệt giam 2 được hình thành từ tháng 10-1967. Bên trong lớp bùng nhùng, địch còn cho dựng một lớp vỉ sắt, chiều ngang một tấm, chiều dài ba tấm, một phần vĩ sắt được âm dưới đất và các tấm khác cột vào cọc sắt chống hóa lên cao khỏi đầu, nền đất cát, trên phủ bạt. Biệt giam 2 khá kiên cố, rất nóng nực vì vỉ sắt cản gió và ánh sáng rất ít lọt vào được.

Tù binh bị giam trong Biệt giam 2 lúc đầu là anh em tù binh ở khu A1 gồm những người chúng cho là “đầu sỏ”, “cứng đầu”, về sau chúng đưa những tù binh ở các phân khu khác mà chúng liệt vào loại “cứng cổ” về giam chung. Đặc biệt, từ sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, chúng đưa một số tù binh mới bị bắt và đưa tù binh sĩ quan, hạ sĩ quan vào giam trong Biệt giam B2.

Biệt giam 2 có diện tích 27 mét vuông, nhưng khi cao điểm chúng giam tới 180 người. Ở trong biệt giam, anh em chia ra, phân nửa nằm, phân nửa ngồi. Khi quân cảnh đổi gác anh em cũng đổi phiên, người nằm ngồi dậy, người ngồi nằm xuống. Lúc ngủ anh em phải nằm nghiêng, co chân gác lên vai người trước. Lúc đông quá, không đủ chỗ nằm, anh em phải phân chia một số người đứng. Khi đến phiên, một số người ăn ngủ đều phải đứng.

Mỗi ngày chúng cho anh em ăn hai bữa cơm, vào lúc 10 giờ và 16 giờ. Mỗi bữa mỗi người được một nắm cơm vắt bằng cái bóng đèn tròn, ăn với một ít muối hột. Người đem cơm ra bới vắt và trao cho từng người trước mặt bọn giám thị, chứ chúng không cho vắt sẵn trong phân khu, sợ anh em vắt thật chặt, cơm nhiều hoặc giấu thức ăn trong cơm hay cho nhiều muối. Anh em trong biệt giam cầm nắm cơm bằng bàn tay dơ dáy, hôi hám mà ăn.

“Mỗi người một ngày chỉ được một ca nước uống, vào hai bữa ăn, sáng nửa ca, chiều nửa ca. Anh em phân cặp với nhau uống nước, sáng người này uống trước, chiều người kia uống trước cho “công bằng”.

Ở trong biệt giam, những lúc nóng nực, mọi người đều cởi trần truồng. Anh em lấy quần áo nối lại thành sợi dây dài có tua lòng thòng cột ngay trên đầu rồi phân công hai người đứng đưa như đưa võng cho có gió, đỡ ngột ngạt.

Thùng cầu tiêu để ở góc tây nam. 4 – 5 ngày mới đi tiêu một lần vì ăn uống chẳng có bao nhiêu. Khi đi tiêu phải xé một chút quần áo của mình để lau chùi.

Khoảng một tháng rưỡi hoặc hai tháng địch mới cho tắm một lần. Mười người tắm một nửa phuy nước, nhưng vì thùng phuy bị đục lỗ xỏ quai và khiêng đi lắc đổ nên nước còn lại chừng hơn một nửa. Anh em khát lâu ngày, gặp nước vồ lấy uống dù biết đó là nước sống và sẽ bị quân cảnh đánh đập. Chúng hối thúc anh em tắm cho nhanh nên anh em chẳng kịp kỳ cọ mà chỉ chà xát qua loa và đúng ra cũng không có nước để tắm cho sạch.

Hàng ngày không có nước rửa, không có thuốc chữa bệnh nên nhiều người bị ghẻ lở toàn thân rất hôi hám. Bọn quân cảnh canh gác phải đứng cách xa vài chục mét mới chịu nổi

Điều kiện vệ sinh như vậy nên sinh rất nhiều rận. Mỗi diệt hết. Đặc biệt là ruồi, muỗi luôn bu đen khắp người tù ngày một người giết ít nhất một chục con nhưng cũng không và xung quanh biệt giam, bon dịch thấy mà cũng mặc kê.

Khi nghe có tin phái đoàn quốc tế đến, địch đưa anh em đi giấu ở rừng tranh và cho quét don. Làm vệ sinh trong biệt giam nên có đỡ rận, muỗi được ít hôm.

Thượng sĩ nhất Trần Văn Nhu trực tiếp cai quản biệt giam 2 nên đây cũng là biệt giam ác liệt nhất, làm cho nhiều anh em bị thiệt mạng hoặc tàn phế.

Biệt giam là nơi địch giam giữ những người chúng cho là lãnh đạo đấu tranh, những người cứng đầu, kiên quyết chống lại chúng, những người nhận trách nhiệm diệt bọn mật báo, trật tự hoặc tổ chức vượt trại. Tất cả anh em này, trước khi bị đưa đến biệt giam, đã trải qua những trận đòn hết sức khốc liệt ở Ban Điều hành, Ban An ninh. Có những anh em, khi đến biệt giam đi không nổi.

Khi người tù bị đưa vào biệt giam, họ phải làm “thủ tục nhập trại”. Tùy từng nơi từng lúc, “thủ tục nhập trại” có thể là năm chày vỗ vào mắt cá chân, mười thước bảng vào ngực, năm gậy vào cùi chỏ hoặc nộp cho Giám thị Nhu một, hai cái răng. Ít khi chúng miễn thủ tục nhập trại, họa chăng vì chúng quá mệt mỏi.

Vào biệt giam, hàng ngày anh em vẫn thường bị quân cảnh lôi ra đánh phạt, bắt bò, trườn, thụt đầu, hít đất, chống tay xuống đất treo chân lên rào kẽm gai, chạy vòng quanh nhà lều biệt giam... Nếu làm chậm, hoặc làm không đúng theo ý chúng thì bị đấm đá.

Trước mỗi bữa ăn, một số anh em phải lãnh mỗi người 5 – 10 gậy để cho “ngon miệng”, hay để “máu dễ lưu thông” như tên Nhu thường nói. Ban đêm thỉnh thoảng chúng cho mang thùng nước xà phòng hay nước hòa bột tiêu bột ớt vào dội lên người tù nói là để cho “tỉnh giấc”.

Trong hồi ký của mình, anh Nguyễn Văn Thuận viết: “Những ngày đầu tháng 9-1969, tin Bác Hồ mất, không khítrại giam thật ảm đạm, đau thương bao trùm trại giam, cũng có người lo lắng, giảm niềm tin vào thắng lợi của cách mạng. Địch ra sức đánh phá khai thác điểm yếu trên để cưỡng bức, lôi kéo anh em đầu hàng. Ngày nào chúng cũng đánh đập tù binh rồi cho vào trại hoặc tống vào biệt giam. Tôi là một trong sáu anh em bị đưa vào biệt giam, giam chung cùng với 15 người cũ. Nhiều người bại liệt, quần áo lấm lem, đầu tóc bù xù gầy guộc xương bọc da. Nền lều biệt giam là đất đá sỏi. Trời Phú Quốc chợt nắng, chợt mưa. Gió điên cuồng quất mưa vào lều làm cho người ướt sũng. Lúc nắng khí nóng hầm hập, người muốn cong lên.

Anh Chiến người Hà Nội, bị đánh rách da mặt, máu luôn rỉ ra, anh Minh người Cần Thơ moi đất trong hàng rào đắp lên vết thương cho Chiến, vừa nở nụ cười méo xẹo do mấy cái răng mới bị địch đánh gãy. Mỗi khi cơm được đưa đến cho tù, cơm đặt trong thùng gỗ, tên Long cầm cái thuốn sắt một đầu cong như cán dù, vừa là gậy chống đi hàng ngày, vừa chọc vào thùng cơm soi mói, tìm kiếm những thứ có thể đưa vào biệt giam. Một lần phát hiện ra hai chai dầu gió và một ít cá liệt, vậy là hai người đưa cơm hôm đó bị đánh gần chết. Như thường lệ, cứ hai đêm một lần, tên Đỗ Ngọc Long lại dẫn cả tiểu đội quân cảnh vào biệt giam, không nguyên cớ, cứ dùi cui, giày đinh chúng đạp, đánh túi bụi vào người tù... nhiều anh em tù trào máu miệng, ngất xỉu”.

Anh Hà Văn Thạnh (Ba Thạnh), trước khi bị bắt làm công tác an ninh ở Khu Sài Gòn – Gia Định bị nhốt biệt giam 2 nhiều ngày, mắt kéo mây mờ dần rồi mù hẳn. Sau khi trao trả (1973), anh được đưa sang Cộng hòa Dân chủ Đức điều trị nhưng không khỏi. Anh mất năm 1990 sau gần 20 năm không thấy ánh sáng.

Anh Lê Tấn Quốc khi bị bắt là Ủy viên Ban Cán sự FK6 (Sài Gòn – Gia Định). Sau 325 ngày bị nhốt trong các biệt giam, khi ra tù mất anh chỉ thấy mờ mờ. Sau khi được trao trả, gia đình đưa anh đi điều trị nhiều nơi rất tốn kém nhưng mắt anh cứ mờ dần cho tới khi anh mất.

Biệt giam 2 do tên ác ôn Trần Văn Nhu thiết kế và trực tiếp làm Giám thị trưởng. Các biệt giam 4, 5, 6, được xây sau biệt giam 2. Vì vậy, không có các tấm vì sắt làm vách và nền, mà chỉ dựng nhà lều bằng vải bat, căng mấy lớp bùng nhùng vây quanh. Bọn giám thị biết rằng, những người tù bị đánh phạt suy kiệt lai nằm trong các khu giam với bao lớp kẽm gai bùng nhùng vây quanh và sự canh phòng nghiêm ngặt của quân cảnh thì không thể còn sức để trốn khỏi biệt giam.

Về các hình thức hành hạ tù nhân ở đây cũng khác hơn biệt giam 2, như: bọn giám thị và trật tự cho tù binh nằm dưới đất, nếu đông người quá không đủ chỗ ngồi và nằm thì chúng cho họ được nằm ra bên ngoài. Tù binh ở đây không phải lo về chỗ nằm, vì nếu đồng tù binh, bọn chúng cũng chỉ cần nới rộng thêm các lớp kẽm gai bùng nhùng là được. Tù binh vẫn bị nắng mưa hành hạ nhưng còn đỡ ngột ngạt hơn ở biệt giam 2.

Về chế độ ăn uống, tắm rửa, vệ sinh, bệnh tật thì các biệt giam đều giống nhau. Vì mục đích của bọn chỉ huy và giám thị là tìm mọi cách để hủy hoại thân thể và khủng bố tinh thần tù binh nên chúng áp dụng các chế độ như nhau, chỉ khác ở mức độ nặng hay nhẹ hơn.

Chiều chiều tên Thượng sĩ Vinh, an ninh của Tiểu đoàn 8, thường vào biệt giam 6 đánh anh em để giải trí. Có khi hắn rủ thêm 4 - 5 tên khác vào biệt giam lôi tù ra đánh đập, chửi bới.

Những lúc uống rượu ngà ngà say, bọn quân cảnh đánh tù binh nhiều nhất mà không cần lý do, không phải để khai thác tin tức, cũng không phải vì tù phạm kỷ luật, mà để trút mối căm thù lên những người cách mạng đã sa cơ, để trả thù những thất bại của chúng trên chiến trường. Nhưng cũng có khi chỉ nhằm mục đích giải trí.

Đến giữa năm 1970, do sự đấu tranh và can thiệp mạnh mẽ của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Hội Hồng Thập tự Quốc tế, báo chí và dư luận yêu chuộng hòa bình trên thế giới, bọn chỉ huy trại giam phải bỏ biệt giam ngoài phân khu.

Đến cuối năm 1971, địch lập ra một phân khu biệt lập. Và một thời gian sau nữa, do phong trào đấu tranh của tù bình vẫn tiếp tục lên cao, địch lập lại biệt giam trong phân khu ở A2.

Để lập biệt giam trong phân khu, địch lấy một phòng trong dãy phòng đầu, cho rào dây kẽm gai theo kiểu mái nhà và thả bùng nhùng trên dưới dày đặc, chỉ chừa một cửa ra vào và khóa cẩn thận.

Chúng bắt những tù binh chúng cho là vi phạm kỷ luật đưa đi tra khảo đánh đập ở nhà giám thị hoặc ở Ban Điều hành rồi mới đưa vào biệt giam này. Ăn, ở, đi tiêu, tiểu đều ở trong phòng. Tù binh phải nằm trên nền xi măng không có mùng mền, không có áo quần để thay và không được tắm rửa.

Mỗi buổi sáng, giám thị vào bắt anh em hít đất, thụt dầu và bắt hô khẩu hiệu “xin thua”. Hắn bắt một người hô “chúng tôi không đào hầm nữa”, mọi người phải đáp lại “xin thua”; người kia hô “chúng tôi không sách động đấu tranh nữa” mọi người phải hô “xin thua, xin thua”. Ban đầu anh em không hô, chúng đánh đập rất dã man, anh em phải hô cho có lệ. Sau anh em bàn bạc kiên quyết không hô. Địch đánh đập dữ dội hơn nhưng anh em vẫn không chịu hô nên về sau, chúng phải bỏ lệnh đó.

Việc ăn uống ở đây tương đối khá hơn biệt giam ngoài phân khu. Đến giờ ăn, giám thị áp giải hai tù binh khiêng vào biệt giam một thùng cơm và một thùng nước nấu chín có bỏ cơm cháy vào thay trà. Giám thị ra lệnh chỉ cho anh em ăn cơm với muối hột và không được đưa nhiều cơm, nhưng nhà bếp tìm nhiều cách để bồi dưỡng cho anh em biệt giam như đựng thức ăn trong bọc nilông rồi thả chìm trong thùng nước uống, vì nước uống có màu cơm cháy nên giám thi không nhìn thấy; hoặc gỡ lấy toàn thịt cá liệt rồi trộn đều trong thùng cơm ém xuống dưới và phủ một lớp cơm thường lên trên đưa vào cho anh em ăn. Có khi làm thùng hai đáy, thức ăn và thuốc chữa bệnh để ở dưới, cơm để lên trên. Thùng cơm anh em ém chặt cho nhiều, nhưng khi khiêng thùng thì làm ra vẻ nhẹ để cho giám thị không nghỉ. Nói chung do anh em trong phân khu chia sẻ, tìm mọi cách kín đáo giúp đỡ nên biệt giam trong phân khu vào thời gian này ít ác liệt hơn biệt giam bên ngoài.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn