Trời còn mờ đất, tôi đã đến nhà cụ Trần Toại. Sau khi nghe trình bày vắn tắt chủ trương khởi nghĩa của Tỉnh ủy, cụ Toại liền phái cô Thoa, cô Diễn trong nhóm Thành niên Cứu quốc, đi triệu tập anh Tiểu, anh Cả, anh Sương và đồng chí Huỳnh Thanh, một cựu chính trị phạm đến nhà mình nghe tôi trình bày kế hoạch khởi nghĩa Ba Tơ và phát động quần chúng làm ngay cuộc khởi nghĩa ở Trường An. Khi sương mai chưa tan trên các triền núi thì trong thung lũng Trường An tiếng trống, tiếng mõ nổi lên, làm chấn động cả một vùng rừng núi. Truyền đơn biếu ngữ của Mật trận Việt Minh, cơ đỏ sao vàng theo anh Tiểu, anh Cả, anh Sương sang Tân An, Tân Long, ra xóm vạn chài, xuống Hóc Kè. Đoàn người vừa đi vừa đánh trống, dán biếu ngữ, rải truyền đơn, hô khẩu hiệu, đọc lời kêu gọi "Hỡi quốc dân đồng bào! Nhật lật Pháp. Thời cơ cứu nước đã đến. Ai có súng dùng súng, không có súng thì dùng gươm, dao, giáo mác, tự trang bị cho mình tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở Ba Tơ, đánh đuổi Nhật - Pháp, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc...". Đồng bào từ các ngả nhập vào đoàn biểu tình mỗi lúc một đông. Họ vừa đi viừa giục trống, hô khẩu hiệu "Đánh phát xít Nhật, đuổi thực dân Pháp! Việt Nam độc lập muôn năm!". Khi mặt trời ban mai vượt lên dãy núi đằng đông thì mọi người đã tập trung về gò Trường An. Trên mô đất cao, nhìn biển người đứng chật khoảng gò rộng, tôi càng hiểu ra sức mạnh to lớn của quần chúng một khi lòng yêu nước của họ được cách mạng khơi dậy. Tôi nói to: "Thưa đồng bào! Hôm qua Nhật đã lật Pháp trên toàn cõi Đông Dương. Lực lượng Pháp tan rã đang chạy trốn. Bọn Nhật vừa lên nắm quyền chưa kịp tổ chức bộ máy tay sai. Đây là cơ hội nghìn năm có một. Hơn tám mươi năm mất nước dân ta chịu làm thân trâu ngựa cho thực dân Pháp và vua quan Nam triều bán nước. Mấy năm qua, Nhật vào Đông Dương, dân ta phải chịu thêm một tầng áp bức nữa. Bọn chúng ra sức bóc lột đồng bào ta đến tận xương tận tủy. Biết bao nhiêu nghĩa sĩ, anh hùng cách mạng bị chúng bắt tù đày, bắn giết. Tội ác của chúng không sao kể xiết. Giờ đây thời cơ đã đến, chúng ta kiên quyết đứng lên đánh Nhật, đuổi Pháp giành độc lập cho Tổ quốc, tự do cho nhân dân. Dù phải hy sinh xương máu, chúng ta thề quyết chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng. Giờ này anh em an trí Ba Tơ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã đứng lên khởi nghĩa cướp chính quyền. Đồng bào mau mau siết chặt hàng ngũ. Ai có súng dùng súng, có gươm dùng gươm, tiến về Ba Tơ hợp sức với anh em an trí và đồng bào làm cho cuộc khởi nghĩa thắng lợi thành công. Việt Nam độc lập muôn năm!". Tiếng hô khẩu hiệu vang lên như sấm dậy rung chuyển cả một vùng. Tôi giới thiệu cụ Trần Toại là người lãnh đạo cao nhất ở đây, và anh Huỳnh Thanh sẽ chỉ huy cuộc biểu tình tiến về Ba Tơ. Sau khi trao đổi với cụ Toại và anh Huỳnh Thanh một số công việc, tôi trở lại Ba Tơ, đến suối Loa gặp anh Giao, anh Khế, anh Kiệt, anh Khuy và một số anh em an trí khác. Hỏi qua tình hình mới biết: Kế hoạch bất ngờ cướp đồn không thực hiện được. Khi ta đến trình diện thì đội Phổ đã biết tin Nhật lật Pháp ở tỉnh lỵ Quảng Ngãi nên ra lệnh đóng chặt cổng đồn, bốn vọng gác quanh thành đồn có lính canh, súng ống nai nịt sẵn sàng.
- Bây giờ ta định sao? - Tôi hỏi.
- Theo tin cơ sở báo thì tên quan ba giám binh đang trên đường từ Quảng Ngãi chạy lên đây. Ta định đón bắt buộc nó ra lệnh giao đồn, súng đạn để ta tổ chức chống Nhật - Anh Kiệt trả lời.
Vừa lúc ấy mẹ anh Võ Phấn và người em trai Võ Thứ từ Mộ Đức lên. Thấy chúng tôi, bà hỏi ngay:
- Biết Nhật đánh Tây chưa?
Chúng tôi gật đầu. Bà hỏi tiếp:
- Bây giờ làm sao? Kéo nhau về chứ?
Chúng tôi chưa kịp trả lời thì đã thấy viên giám binh thất thểu đi lên, mặt mũi bơ phơ, hốc hác, bộ quần áo trên người lấm bẩn, ướt đẫm nước. Chắc đêm qua hắn phải luồn rừng lên đây để tránh bọn Nhật đuổi theo. Viên giám binh bị chặn lại. Chúng tôi cử anh Sanh ra nói chuyện. Hắn con đang ngơ ngác nhìn chưa hiểu điều gì xảy ra thì anh Sanh bảo:
- Các ông không phòng thủ nổi Đông Dương, ngồi chờ lực lượng Đồng minh, để cho Nhật chiếm. Vậy ngay bây giờ ông phải giao đồn và súng đạn cho những người an trí cộng sản để chúng tôi tổ chức đánh Nhật.
- Nhật mạnh lắm. Tôi khuyên các anh nên rút vào hoạt động bí mật. Xin lỗi, tôi phải về đồn, chiều nay mời các anh lên gặp, tôi sẽ tiếp.
Vì không hiểu ý đồ chúng tôi, lại thấy thái độ viên giám binh nhã nhặn lịch sự nên anh Sanh bằng lòng để nó đi, còn đưa tay vẫy chào và hô to "Vive Đơ Gôn!". Viên giám binh bắt gặp một chiếc xe kéo liền bước nhanh lên, chạy về đồn. Khi nghe anh Sanh trở lại trình bày nội dung cuộc nói chuyện thì cơ hội bắt giữ viên giám binh đã tuột khỏi tay chúng tôi. Tôi đề nghị anh Giao họp Tỉnh ủy lâm thời kiểm điểm việc thi hành nghị quyết đêm qua. Trong chòi canh bên đường ở suối Loa kẻ đứng người ngồi, cuộc họp sôi nổi ngay từ đầu. Sau khi nghe một số đồng chí trình bày cơ hội cướp đồn không con nữa, nhưng đã huy động được phong trào quần chúng quanh vùng Ba Tơ ủng hộ cuộc khởi nghĩa, nay việc bắt viên quan ba giám binh buộc nó phải giao đồn cũng không làm được, vậy chỉ còn cách trở về trung châu lãnh đạo phong trào, mở rộng cơ sở chờ thời cơ, tôi không còn giữ được bình tĩnh nói ngay:
- Chúng ta đã thảo luận, lường trước mọi khó khăn, thuận lợi và những điều có thể xảy ra rồi mới đi đến quyết định tiến hành cuộc khởi nghĩa Ba Tơ. Vì vậy cuộc khởi nghĩa không thể đình hoãn được - Tôi phân tích - Chúng ta huy động lực lượng quần chúng vũ trang ở Trường An kéo về tiếp ứng; các anh cũng đã phát động quần chúng Ba Tơ và anh em an trí đều vũ trang sẵn sàng cho cuộc khởi nghĩa Ba Tơ. Nếu kế hoạch khởi nghĩa hủy bỏ sẽ làm giảm khí thế quần chúng, gây mối nghi ngờ về quyết tâm của chúng ta. Kẻ xấu sẽ lợi dụng xuyên tạc làm giảm nhiệt tình cách mạng của quần chúng và Tỉnh ủy phải chịu trách nhiệm trước lịch sử về sự thất bại này!
Anh Kiệt phê phán gay gắt:
- Tôi thấy tiến hành khởi nghĩa mà chúng ta còn thiếu kiên quyết. Khi bất trắc xảy ra chúng ta có thảo luận, trao đổi nhưng chưa thành nghị quyết, không phân rõ trách nhiệm cho từng người trong Tỉnh ủy, không phổ biến cụ thể chủ trương của Tỉnh ủy, đến từng đồng chí trung kiên. Việc đồng chí Sanh thả tên quan ba về đồn là chưa hiểu rõ ý đồ của chúng ta. Tôi tha thiết yêu cầu: Chúng ta kiên quyết tiến hành cuộc khởi nghĩa. Mọi hành động phải phục tùng người chỉ huy như phục tùng mệnh lệnh quân sự.
Nghe xong tất cả ý kiến, anh Giao kết luận:
- Tên quan ba về đồn, nhưng trong tâm trạng hoang mang lo sợ. Binh lính thấy chỉ huy thiếu tư thế càng thêm dao động. Nhật vừa cướp chính quyền trong tay Pháp còn đang lo củng cố, trước hết là ở thị xã rồi đến các huyện và dọc trục đường giao thông huyết mạch. Vì vậy thời cơ khởi nghĩa cướp đồn, cướp chính quyền ở Ba Tơ vẫn còn. Chúng ta đồng tâm nhất trí, không sợ hy sinh nhưng thiếu kinh nghiệm chỉ huy đã bỏ qua nhiều cơ hội quan trọng. Tôi đề nghị: Quyết tâm thi hành nghị quyết khởi nghĩa Ba Tơ bằng bất cứ giá nào. Phát động cuộc khởi nghĩa trong nông thôn ở các huyện trung châu để phân tán lực lượng địch, bảo vệ căn cứ Ba Tơ - Anh Giao nhấn mạnh: Ngay ngày mai cuộc khởi nghĩa Ba Tơ phải giành được thắng lợi! Đó sẽ là ngòi nổ tạo ra một loạt phản ứng dây chuyền trong khắp cả tỉnh - Anh dừng lại nhìn chúng tôi như để truyền thêm nghị lực và quyết tâm, rồi tiếp - Theo phân công như trước, chúng ta chia thành ba bộ phận. Bộ phận ở Ba Ta do anh Khâm làm chính trị ủy viên kiêm bí thư chi bộ. Bộ phận ở các huyện phía nam do anh Khuy phụ trách lấy đồn Ba Tơ làm ám hiệu liên lạc giữa ba bộ phận với tỉnh ủy. Tôi đề nghị anh Khâm mang bí danh "Đôn", anh Khuy mang bí danh "Ba", anh Khê mang bí danh "Tơ" để nhắc mỗi chúng ta nhớ đến địa danh nổ ra cuộc khởi nghĩa lịch sử này.Trước lúc ra đi, anh Giao nắm chặt tay tôi và anh Kiệt nói lời tâm huyết: "Các anh ở lại quyết tâm giành thắng lợi trong cuộc khởi nghĩa Ba Tơ, cướp chính quyền, lấy vũ khí xây dựng căn cứ. Chúng tôi trở lại trung châu phát động cuộc khởi nghĩa để chi viện cho các anh".
Trong bàn tay nóng bỏng siết chặt đầy nhiệt huyết, quyến luyến, tin tưởng, chúng tôi tạm biệt nhau. Các anh đi rồi, tôi bàn để anh Kiệt trở lại Ba Tơ, tổ chức một đội tự vệ trang bị gọn, canh gác tất cả các ngả đường, cử anh Sanh, anh Thứ vào gặp viên giám binh buộc nó giao súng giao đồn để ta tổ chức đánh Nhật. Tôi và anh Khoách trở lại Trường An bàn với cụ Trần Toại tổ chức lực lượng quần chúng đưa vũ khí lên Ba Tơ chi viện cho cuộc khỏi nghĩa đêm 11 tháng 3 năm 1945.
Trên đường trở lên Ba Tơ, nắng đã nhạt màu ngả bóng dài dưới chân, tôi vừa đi vừa miên man suy nghĩ: Đánh đồn bằng cách nào? Sử dụng một lực lượng quần chúng đông, trong tay chỉ có vài cây súng săn liệu có phải hy sinh nhiều không? Làm thế nào liên lạc được với vài cơ sở trong đồn để lấy ít súng ra trang bị cho anh em? Vượt qua hào lũy bằng cách nào? Với người chỉ huy hăng hái nhiệt tình, dũng cảm, không sợ hy sinh như anh Kiệt, tôi hoàn toàn tin tưởng. Nhưng liệu sự hy sinh ấy có giành được thắng lợi không? Nếu cuộc khởi nghĩa thất bại thì gây ra biết bao nhiêu tổn hại cho phong trào cách mạng tỉnh nhà. Tôi bỗng nhớ đến lời nói trầm tĩnh của anh Giao. Cái vẻ trầm tĩnh của con người từng trải, giàu lòng tự tin, biết lường trước cái gì sẽ xảy ra và nghĩ chu đáo cách đối phó. Tôi bỗng thấy như mình được tiếp thêm nghị lực. Rồi thầm hứa: "Các anh ơi! Dù có phải hy sinh chúng tôi cũng quyết giành thắng lợi vì chúng tôi hiểu các anh và đồng bào gửi gắm lòng tin vào chúng tôi trong cuộc quyết chiến này". Trên đường chúng tôi gặp anh lính mang súng đi ngược chiều. Anh Khoách chặn lại hòi:
- Anh mang súng đi đâu?
- Tôi trốn về quê. Vùng tôi nhiều heo rừng ra phá lúa, tôi mang súng về bắn kiếm ăn.
- Nhật đã lật Pháp, thời cơ thuận lợi cho chúng ta làm cách mạng giành độc lập tự do cho dân cho nước. Anh nên trao súng và theo chúng tôi - Tôi nói.
Sau vài phút do dự, anh lính cởi thắt lưng bao đạn trao cả cây súng cho tôi:
- Các anh thương cho tôi về. Nhà tôi khổ lắm. Vợ con nheo nhóc. Tôi đi lính là vì sinh kế chứ không có lòng phản trắc Tổ quốc.
Tôi đeo bao đạn, khoác khẩu súng qua vai, có cảm tưởng mình thêm sức mạnh. Anh Kiệt đợi chúng tôi ở nhà ông Tài. Anh cho biết tên giám binh rất ngoan cố không chịu giao súng, giao đồn còn khuyên chúng ta theo nó lên Kông Plông tổ chức đánh Nhật.
Anh tiếp:
- Để uy hiếp tinh thần bọn lính trong đồn, tôi vừa tổ chức mít tinh quần chúng ở Hoàng Đồn, treo cờ tung truyền đơn hô khẩu hiệu "ủng hộ Việt Minh" kêu gọi lính đồn hạ vũ khí, giúp an trí đánh Tây đuổi Nhật.
- Ta có liên lạc với quyền Liệp không anh?
- Có anh Lựu, anh Động có gặp quyền Liệp. Anh ta cho biết tinh thần binh lính tan rã, nhiều đứa bỏ trốn. Đứa còn lại không nghe mệnh lệnh của đội Phổ. Quyền Liệp hứa đêm nay sẽ đưa ra cho ít súng.
Chúng tôi họp bàn thống nhất nhận định: Khả năng thương lượng không còn. Phương án duy nhất là tấn công. Trước hết chiếm Nha kiểm lý Ba Tơ để thu thêm một số vũ khí rồi bổ sung đạn dược chỉnh đốn đội ngũ sẽ tiến lên đồn bao vây ba mặt. Dùng lục lượng quần chúng bao vây, bên ngoài hô khẩu hiệu, nổi trống mõ uy hiếp tinh thần bọn lính trong đồn, khi nổ súng tiến công kêu gọi đầu hàng. Trời sập tối quyền Liệp đưa ra cho chúng tôi bốn khẩu súng và một số đạn. Lúc này cả súng săn và súng trường có bảy khẩu, chúng tôi chọn mười bảy đồng chí trung kiên trang bị thêm giáo, mác, dao rựa chia làm hai tốp. Một tốp bố trí chặn bọn lính đồn sang tiếp viện. Một tốp bí mật bao vây nhà viên kiểm lý Ba Tơ. Tôi, anh Kiệt và mấy người nữa bất ngờ đột nhập. Khi chúng tôi tiến vào thì Bùi Danh Ngũ cùng đám lý trưởng đang bàn mưu kiểm soát tình hình, chờ đón quân Nhật kéo lên. Thấy chúng tôi bất ngờ xuất hiện, Bùi Danh Ngũ lúng túng nhưng rồi chấn tĩnh hỏi giọng hách dịch:
- Các anh làm gì ở đây?
- Chúng tôi làm cách mạng! - Anh Kiệt chỉ lưỡi lê trên đầu súng thét to vào mặt hắn - Hôm nay chúng tôi không còn là người tù chịu sự kiểm soát của các ông. Những người cộng sản chúng tôi đã vận động quần chúng nổi dậy đánh Tây đuổi Nhật giành lại độc lập cho Tổ quốc.
Bùi Danh Ngũ tái mặt, đám lý hương run bần bật, có thằng thụp xuống, núp phía sau bàn xin các ông an trí tha tội chết.
Anh Kiệt ra lệnh:
- Các ông phải nạp hết vũ khí, giấy tờ. Từ nay chính quyền vùng Ba Tơ do lực lượng cách mạng kiểm soát. Ai trái lệnh cách mạng sẽ không tha tội chết.
Bùi Danh Ngũ cúi đầu, hạ giọng:
- Chúng tôi xin tuân lệnh các ông an trí. Hắn gọi người mang nộp vũ khí, còn hắn mang cả giấy tờ, con dấu ra dâng cho lực lượng cách mạng.
Thế là cuộc áp đảo chiếm Nha kiểm lý Ba Tơ xảy ra êm thâm không phải nổ súng. Chúng tôi cắt người ở lại canh gác bọn Bùi Danh Ngũ và đám lý hương, phân phát số súng đạn vừa thu được cho anh em rồi chia làm ba mũi: hai mũi áp sát vào phía nam và phía bắc. Mũi chủ công tiến thẳng trước mặt đồn có tôi, anh Kiệt, anh Nhạn, anh Thứ và một số đồng chí trung kiên. Bố trí xong trận địa, nhìn lên mặt thành không thấy lính gác, cửa đồn đóng chặt, chúng tôi hướng vào đồn kêu gọi: "Hỡi anh em binh lính! Nhật lật Pháp, thời cơ đã đến. Anh em hãy bỏ vũ khí, đứng lên hưởng ứng cuộc cách mạng, ủng hộ Mặt trận Việt Minh. Anh em hãy mở cửa cho anh em an trí tiến vào chiếm đồn lấy vũ khí tổ chức đánh Nhật đuổi Pháp giành độc lập cho Tổ quốc. Chúng ta nhất quyết không chịu làm nô lệ".
Im lặng, không có tiếng trả lời, không có tiếng súng bắn ra. Chúng tôi cho nổ súng vào đồn! Tiếng ngói đổ rào rào, tiếng lính kêu khóc. Loa lại gọi, lời lẽ quyết liệt: "Ai đầu hàng cách mạng thì sống, ai chống lại thì chết !". Tiếp theo là những loạt súng đồng loạt nổ vào đồn. Chúng tôi nghe tiếng lính kêu khóc gọi nhau "Đầu hàng! Đầu hàng!","Ai chống cự là chết". Rồi một tên lính cầm ngọn đèn bão từ trong đồn chạy ra, miệng kêu "Đừng bắn! Đừng bắn!". Hai cánh cổng đồn bật mở. Chúng tôi ào vào. Đám lính trong nhà chạy cả ra sân, súng đạn chất thành đống. Một số anh trong đội vũ trang bắt lính ngồi thành hàng trước sân đồn, số khác chạy vào từng nhà bắt bọn lính còn trốn, tìm tên giám binh và đội Phổ. Tôi gặp quyền Liệp, anh báo cho biết đội Phổ và tên giám binh đã luồn ra cửa sau vượt sông chạy lên hướng Kông-Plông mất rồi.
Cuộc khởi nghĩa thắng lợi. Chúng tôi hạ cờ ba sắc, kéo lá cờ đỏ sao vàng lên đỉnh cột giữa sân đồn. Gió đêm thổi mạnh, lá cờ phần phật tung bay. Ngoài kia, trên các ngả đường đổ về phố huyện, dưới ánh đuốc bập bùng đồng bào vừa đi vừa hô vang khẩu hiệu "Việt Nam độc lập muôn năm". Tiếng trống, tiếng mõ, tù và vang lên mừng thắng lợi vang động núi rừng miền Tây.
Quyền Liệp đã tập họp đám binh lính trước sân đồn. Anh Kiệt đứng lên tuyên bố: Cách mạng đã khởi nghĩa thành công ở Ba Tơ. Theo chính sách khoan hồng, chúng tôi để các anh trở về quê hương bản quán làm ăn với vợ con, nhưng không được theo Nhật, Tây chống lại đồng bào. Ai phản bội sẽ bị nghiêm trị. Còn anh em nào muốn theo đi theo cách mạng đánh Nhật đuổi Tây giành độc lập cho đất nước thì ở lại... Trừ một số rất ít, phần đông binh lính mang rương hòm lục tục kéo nhau ra về.
Để khuếch trương thắng lợi của cuộc khởi nghĩa, chúng tôi cử một số đồng chí cưỡi ngựa về các buôn làng xa như Cơ Nhất, Vực Liêm, Măng Đốc, Giá Vụt báo tin vui. Đứng trên thành đồn nhìn các đồng chí tay cầm đuốc rạp người trên mình ngựa phi về các ngả tôi thấy lòng vui vô hạn, nước mắt chực trào ra. Đêm hôm ấy trời Ba Tơ đầy sao. Dưới ánh đuốc bập bùng chúng tôi thu dọn chiến lợi phẩm, súng ống đạn dược. Sau khi kiểm tra, anh Kiệt phát cho mỗi người trong lực lượng vũ trang một cây mút-cơ-tông, để dự trữ, còn lại anh giao cho những quần chúng trung kiên ở xóm vạn chài chuyển về Trường An - Cơ Nhất cất giấu.
Trời vừa rạng sáng, đồng bào Kinh, Thượng từ các buôn làng, hàng ngũ chỉnh tề, mang theo gươm, dao, giáo, mác... cờ đỏ sao vàng từ mọi ngả kéo về đứng chật sân vận động trước Hoàng Đồn. Trên sân dựng một cột cờ cao, dưới chân để chiếc bàn lớn. Khi mặt trời vượt đỉnh núi, nhưng sương sớm khói đá như những con gấu xám đang bò trên các sườn dốc, thì cuộc mít tinh bắt đầu. Anh Kiệt đứng trên bàn cao nói rõ tình hình đất nước và phong trào cách mạng trong tỉnh đang lên cao, kêu gọi đồng bào Kinh, Thượng đoàn kết dùng gươm dao, giáo mác cùng nhau đánh giặc. Tiếng hô khẩu hiệu vang lên tỏ rõ quyết tâm của đồng bào Kinh, Thượng một lòng theo Đảng cách mạng:
"Việt Nam độc lập muôn năm!"
Tiếp lời anh Kiệt, tôi đứng lên tuyên bố thành lập chính quyền cách mạng và xây dựng khu du kích Ba Tơ. Tôi nói:
- Kính thưa đồng bào! Kể từ đây các cấp chính quyền của Pháp lập ra không có hiệu lực. Cách mạng thành lập "Ủy ban nhân dân cách mạng Ba Tơ" để điều hành mọi công việc trong vùng, và thành lập lực lượng vũ trang cách mạng gọi là "Đội du kích Ba Tơ". Sau đó tôi đọc lời tuyên bố của ủy ban nhân dân cách mạng Ba Tơ:
"Kính thưa đồng bào!
Ủy ban nhân dân cách mạng Ba Tơ theo tiếng gọi giang sơn, nhận thấy nhiệm vụ nặng nề lịch sử phó thác, đã mạnh mẽ tiên phong phất cờ khởi nghĩa tiếp tục hưởng ứng các cuộc khởi nghĩa và đội quân du kích Bắc Sơn, dựng lên chính quyền nhân dân cách mạng Ba Tơ.
Chính quyền cách mạng Ba Tơ là một bộ phận khăng khít của chính quyền cách mạng toàn quốc, vừa là phần tử chống phát xít của mặt trận Dân chủ thế giới. Từ giờ phút này, chính quyền cách mạng tuyên bố xóa bỏ các thứ xâu thuế nợ nần của Pháp lập ra. Nhiệm vụ của chính quyền cách mạng là toàn dân Kinh, Thượng đánh đổ phát xít Nhật, tây sạch phát xít Pháp, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập.
Đội quân du kích cứu quốc Ba Tơ là lực lượng của cách mạng của Đảng, của toàn thể đồng bào, có nhiệm vụ chiến đấu cho nền độc lập tự do của đất nước bảo vệ đồng bào. Đồng bào hãy nuôi dưỡng bảo vệ nó hoàn thành nhiệm vụ.
Chúng tôi xin tuyên thệ trước đồng bào "Ủy ban nhân dân cách mạng" nguyện noi theo vết máu của tiền nhân, quyết rửa hờn giống nòi, phục thù cho Tổ quốc.
Chúng tôi kêu gọi đồng bào, lúc này hơn lúc nào hết, đồng bào Kinh, Thượng hãy mau mau đoàn kết lại, không phân biệt gái trai, già trẻ, không phân biệt giàu nghèo, không phân biệt tôn giáo hãy chung lưng đấu cật góp tài, góp sức tham gia vào cuộc cách mạng đem lại độc lập cho nước nhà...".
Tiếng hô khẩu hiệu vang lên biểu thị quyết tâm:
"Đánh đuổi phát xít Nhật!"
"Tẩy sạch phát xít Pháp!"
"Việt Nam hoàn toàn độc lập!"
Sau mít tính là cuộc diễu hành của đội du kích cứu quốc Ba Tơ. Đoàn quân bước theo nhịp "một -hai" trong bình minh Ba Tơ, diễu qua các đoàn biểu tình hát vang bài ca "Cùng nhau đi hồng binh:
Cùng nhau đi hồng binh Đồng tâm ta cùng bước Đừng cho quân thù thoát..."
Sau cuộc mít tinh chào mừng thắng lợi và thành lập chính quyền cách mạng, đồng bào Kinh, Thượng ở phía động Ba Tơ phối hợp với đồng bào Hùng Nghĩa, Vạn Lý đào phá cầu đường, chặt cây xẻ đá lấp đường. Một bộ phận du kích Cứu quốc và tự vệ do đồng chí Lê Lạc chỉ huy liên lạc với đồng chí Trúng bố trí canh gác từ Đá Chát đến Dốc Mốc đề phong quân Nhật từ Mộ Đức, Nghĩa Hành kéo lên Ba Tơ.
Chiều ngày 13 tháng 3 năm 1945 chúng tôi họp kiểm điểm và thống nhất nhận định, quân Nhật sau khi ổn định trật tự ở trung châu, chúng sẽ kéo quân lên kiểm soát các đồn miền núi. Về phần ta đã hoàn thành mục đích cuộc khởi nghĩa giành chính quyền để phát động phong trào; đã thu được toàn bộ vũ khí trang bị cho mình để phát triển lực lượng vũ trang và xây dựng căn cứ địa cách mạng. Ta không cần chiếm đất giữ đồn để phải giao chiến với Nhật dễ bị tiêu hao, mà cần phải bảo toàn lực lượng.
Vì vậy chuyển chính quyền cách mạng hoạt động bí mật trong lòng dân. Chuyển đội du kích Cứu quốc hoạt động cơ động để xây dựng căn cứ và phát triển lực lượng.
Chúng tôi phân công: Anh Kiệt cùng anh em chuẩn bị mọi thứ cần thiết cho đội du kích Cứu quốc kéo về rừng núi, chuẩn bị tư tưởng cho đồng bào trong vùng Ba Tơ. Anh Khoách đi lên Giá Vụt mang ám tín hiệu trực tiếp gặp Già Kiêu, bàn với ông tiếp tế lương thực cho đội du kích kéo lên đó.
Sáng ngày 14 tôi xuống Trường An kiểm tra việc bố phòng. Tôi ghé vào chỗ làm việc của Mặt trận Việt Minh. Đồng bào lao xao kẻ đứng ngoài sân người ở trong nhà, đang xin ghi tên vào Hội Nông dân Cứu quốc, Phụ nữ Cứu quốc, Thanh niên Cứu quốc.
Anh Thanh ra bắt tay tôi và nói:
- Từ hai ba hôm nay, sau khi ở Ba Tơ về, đêm cũng như ngày đồng bào đến xin vào Mật trận Việt Minh. Đồng bào rất hăng hái và trân trọng, ai cũng muốn bày tỏ lòng thành với cách mạng, đem theo thóc gạo, tiền bạc, gà vịt ủng hộ cách mạng, ủng hộ đội du kích như vậy đấy anh ạ.
Nghe anh nói tôi thầm nghĩ, chắc phong trào ở trung châu cung sẽ vùng lên như nước vỡ bờ, không gì ngăn nổi.
Anh Thanh cùng tôi đến nhà ông giáo Đàm thì anh Tiểu, anh Cả và Sương đã chờ sẵn.
Bà Giáo nắm tay tôi nói nhỏ:
- Chiều tối qua, cô Bích (vợ tôi) có đến đây. Ông nhà tôi nói: Ba Tơ đã khởi nghĩa, lấy súng đạn kéo vào rừng rồi, có lên cũng không gặp. Sáng nay cô xin đi về gấp để kịp báo tin.
- Thế thì rất tốt, thím ạ - Tôi nói.
Cuộc họp bắt đầu. Tôi truyền đạt chủ trương chuyển chính quyền vào bí mật và hoạt động nửa công khai, cách đối phó với Nhật. Trước hết phải lãnh đạo tư tưởng nhân dân bình tĩnh làm ăn như thường. Trường hợp Nhật có bắt hỏi, thì nói: mọi việc do các ông an trí Ba Tơ bắt phải làm (chặt cây phá đường), bây giơ họ đi đâu không biết; đồng thời cho tên xã Thụy trở lại làm việc, tiếp xúc với Nhật, nhưng phải tuyệt đối trung thành với cách mạng, phải bảo vệ nhân dân và thường xuyên báo cáo tin tức của Nhật cho ta biết. Chiều hôm ấy tôi trở về Ba Tơ.
Ba Tơ vắng vẻ yên lặng trong bóng hoàng hôn. Gặp vài thanh niên, họ nói với tôi: Các anh đi hết rồi! Đi về phía tây, đồng bào buồn lắm, lo Nhật đến sẽ đốt nhà cướp của như xưa. Lòng tôi se lại, nhớ đến mấy ngày qua Ba Tơ rợp bóng cờ trong rừng giáo gươm tua tủa, mà nay bóng đen sẽ lại bao trùm.
Tôi lập tức cho Huỳnh Họa đem mật thư đưa cho anh Kiệt; đồng thời cho mời tổng Nguối (tù trưởng thế lực nhất trong vùng), ấm Bồ, xã Hương cùng một số khác tập hợp. Tôi nhắc lại nhiệm vụ cách mạng và nói rõ biện pháp đấu tranh khi Nhật kéo đến. Nếu Nhật hỏi thì trả lời: các ông an trí khởi nghĩa, chiếm đồn, lấy vũ khí, rồi đi đâu không biết. Đồng bào Kinh Thượng ở đây chỉ lo làm ăn... Mặt khác các ông chánh phó tổng, lý hương phải dò xem quân Nhật làm gì, muốn kéo quân đi đâu thì phải báo truyền cho đồng bào biết. Chúng tôi không giữ đồn nữa, nhưng chung quanh đây đều có người của chúng tôi.
Từ nay Kinh, Thượng phải giữ lời thề đoàn kết, ai phản lại, làm Việt gian, ai gây thù oán giết hại nhau, sẽ bị kỷ luật cách mạng. Mọi người cắt tóc cùng thề "đoàn kết", bà con vui mừng tin tưởng, nắm tay tôi chúc lên đường mạnh khoẻ, thành công.
Bây giờ nhớ lại những năm tháng ở Ba Tơ trong cảnh cá chậu chim lồng, trong đêm trường nô lệ, thất bại chồng lên thất bại, phong trào lại nối tiếp phong trào, tuy xa cách Trung ương hàng ngàn dặm, Nghị quyết tám của Trung ương từ hang Pắc Pó chỉ ghi nhớ trong đầu những người cộng sản, truyền từ nhà lao này qua nhà lao khác, vẫn được quán triệt và chấp hành triệt để, cũng như chỉ thị "Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" của Thường vụ Trung ương chưa nhận được mà Đảng bộ Ba Tơ đã kịp thời chớp lấy thời cơ vùng lên giành lấy chính quyền, chỉ nhờ ý chí kiên cường và lòng quả cảm được Đảng giáo dục rèn luyện, mà chúng tôi không đánh mất giờ phút lịch sử "ngàn năm có một" đó. Đến nay qua gần nửa thế kỷ, nhưng mỗi lần nghĩ đến tôi như còn hình dung thấy khuôn mặt hừng hực khí thế của từng đồng chí sẵn sàng hy sinh cho sự nghiệp vĩ đại của Đảng. Chính điều đó đã giúp chúng tôi vượt qua mọi khó khăn nguy hiểm, giữ trọn lòng trung thành với cách mạng, với nhân dân.
Cuộc khởi nghĩa Ba Tơ như tiếng pháo ầm vang báo hiệu cho đồng bào quê tôi vùng lên hướng theo ngọn cơ của Đảng, đẩy mạnh phong trào nhanh chóng tiến tới Cách mạng tháng Tám thành công. |