Bình Ngô đại cáo và ánh hào quang Lam Sơn
Lê Lợi (1385–1433) quê ở xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Trước cảnh đất nước chìm trong ách đô hộ tàn bạo của nhà Minh, năm 1418, ông đã dấy binh khởi nghĩa tại vùng núi Lam Sơn. Trải qua mười năm nếm mật nằm gai, vượt qua muôn vàn gian khổ, thiếu thốn lương thực và nhiều lần bị giặc bao vây hãm hại, Lê Lợi cùng các nghĩa sĩ (với sự phò tá đắc lực của bộ tham mưu tài ba như Nguyễn Trãi) đã chuyển từ thế yếu sang thế mạnh. Bằng chiến lược "lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo" và những trận đánh lớn như Tốt Động - Chúc Động, Chi Lăng - Xương Giang, nghĩa quân Lam Sơn đã quét sạch 20 vạn quân Minh. Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế (Lê Thái Tông/Lê Thái Tổ), mở ra triều Lê sơ thịnh trị và một kỷ nguyên độc lập mới cho dân tộc.
Lịch sử dân tộc Việt Nam ghi nhận nhiều trang sử hào hùng, nhưng có lẽ mười năm kháng chiến chống quân Minh của nghĩa quân Lam Sơn dưới sự lãnh đạo thiên tài của Lê Lợi mãi là một mốc son chói lọi bậc nhất. Cuộc khởi nghĩa ấy không chỉ là bản anh hùng ca về lòng yêu nước thiết tha mà còn là minh chứng sống động cho sức mạnh của ý chí sắt đá và tinh thần nhân nghĩa dân tộc.
Đầu thế kỷ XV, giặc Minh xâm lược nước ta, áp dụng chính sách cai trị vô cùng tàn bạo nhằm tiêu diệt nền văn hóa và vơ vét tài nguyên của Đại Việt. Giữa lúc quốc gia lâm vào cảnh nước mất nhà tan, lầm than khốn đốn, Lê Lợi - một hào trưởng giàu lòng trắc ẩn và yêu nước tại vùng núi Lam Sơn - đã hiên ngang dựng cờ khởi nghĩa. Ông đem gia tài của mình để chiêu mộ nghĩa sĩ, kêu gọi những người con ưu tú từ khắp mọi miền đất nước cùng chung tay gánh vác việc nước.
Mười năm khởi nghĩa Lam Sơn là mười năm "nếm mật nằm gai", đầy rẫy những thử thách khắc nghiệt. Có những thời điểm, nghĩa quân bị bao vây chặt ở núi Chí Linh, lương thực cạn kiệt, phải ăn củ măng, rễ cây, lấy lá cây che thân, thậm chí phải giết cả ngựa chiến để duy trì lực lượng. Thế nhưng, chính ý chí sắt đá, lòng quyết tâm cùng tình đoàn kết gắn bó keo sơn giữa chủ tướng Lê Lợi và các tướng sĩ (như Lê Lai liêu mình cứu chúa, Nguyễn Trãi hiến kế sách ngoại giao và quân sự) đã giúp nghĩa quân vượt qua mọi nghịch cảnh.
Từ một lực lượng nhỏ bé ẩn náu chốn rừng sâu, nghĩa quân Lam Sơn từng bước phát triển lớn mạnh, chuyển từ chiến tranh du kích sang chiến tranh giải phóng dân tộc toàn diện. Tư tưởng quân sự của Lê Lợi kết hợp nhuần nhuyễn với tài văn chương sắc bén của Nguyễn Trãi đã tạo nên sức mạnh vô song. Đỉnh cao của nghệ thuật quân sự ấy là những chiến thắng vang dội tại Tốt Động, Chúc Động và đặc biệt là trận Chi Lăng - Xương Giang năm 1427. Nơi ấy, hàng vạn quân Minh bị tiêu diệt, tướng giặc Liễu Thăng phải bỏ mạng, buộc tổng tư lệnh Vương Thông phải đầu hàng rút lui.
Đất nước sạch bóng quân thù, thay vì trả thù tàn bạo, Lê Lợi và nghĩa quân đã thực thi đạo lý nhân nghĩa sáng ngời: cấp ngựa, thuyền, lương thực cho hàng vạn quân giặc bại trận trở về nước trong an toàn, thể hiện văn hóa hòa bình và lòng khoan dung cao cả của dân tộc Việt. Khi lên ngôi hoàng đế, lập ra nhà Lê sơ, vua Lê Thái Tổ tiếp tục chăm lo phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân, xây dựng một quốc gia Đại Việt thịnh trị, văn minh.
Dù thời gian đã trôi qua hơn sáu thế kỷ, hào khí Lam Sơn và hình ảnh vị anh hùng áo vải Lê Lợi vẫn mãi sáng ngời trong tâm khảm người Việt. Ông là hiện thân của trí tuệ, nhân cách thanh cao và khát vọng tự do muôn đời của dân tộc.



