Khác

Bình Tây Đại Nguyên Soái Trương Định: Khúc tráng ca bất tử của đất Nam Kỳ

Tác giả: Nguyễn Thị Minh Trang

Quảng Ngãi24/08/2026Trường Đại học Hải Dương (Trường Đại học Hải Dương)4 lượt xem0 lượt chia sẻ
Bình Tây Đại Nguyên Soái Trương Định: Khúc tráng ca bất tử của đất Nam Kỳ

Trương Định (còn được biết đến với tên gọi Trương Công Định hoặc Trương Đăng Định) sinh năm 1820 tại làng Tư Cung, phủ Bình Sơn (nay là xã Tịnh Khê, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi). Ông là hậu duệ của dòng họ Trương danh tiếng, có cha là Lãnh binh Trương Cầm, người từng giữ chức Hữu thủy Vệ úy tại Gia Định dưới triều vua Thiệu Trị. Được nuôi dưỡng trong một gia đình thế gia và vùng đất hiếu học, Trương Định dù không chọn con đường cử nghiệp khoa bảng vẫn được giáo dục vô cùng bài bản, thông hiểu binh thư, tinh thông võ nghệ và đặc biệt có tài bắn súng xuất chúng.

Năm 1844, Trương Định theo cha vào Nam. Sau khi cha mất, ông kết hôn với bà Lê Thị Thưởng, con gái của một hào phú tại huyện Tân Hòa (Gò Công) và quyết định ở lại quê vợ. Đến năm 1850 (có tài liệu ghi 1854), hưởng ứng chính sách khẩn hoang của tướng Nguyễn Tri Phương, Trương Định đã tự xuất tiền của cá nhân để chiêu mộ dân nghèo lập đồn điền tại Gia Thuận (Gò Công). Nhờ công lao này, ông được nhà Nguyễn bổ làm Quản cơ (hoặc Phó Quản cơ), hàm chánh lục phẩm. Việc lập đồn điền không chỉ là khai hoang mà còn là sự chuẩn bị lực lượng kín đáo của ông cho công cuộc kháng Pháp sau này. Sự chuẩn bị ấy càng thêm vững chắc khi ông kết hôn với người vợ thứ hai là bà Trần Thị Sanh – một hào phú giàu có bậc nhất Gò Công và là họ hàng của Từ Dũ Thái hậu, mang lại cho ông nguồn lực tài chính to lớn để nuôi quân đánh giặc.

Khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược, Trương Định lập tức bước vào cuộc chiến. Tháng 2 năm 1859, khi quân Pháp đánh chiếm Gia Định, ông đưa thuyên chuyển quân đồn điền lên đóng ở Thuận Kiều, anh dũng lập nhiều chiến công tại Cây Mai, Thị Nghè, nổi bật là trận phục kích tiêu diệt tên Đại úy Pháp Barbe. Đến đầu năm 1861, khi giặc Pháp tấn công Gia Định lần thứ hai, ông cùng binh sĩ phối hợp với tướng Nguyễn Tri Phương phòng giữ chiến tuyến Chí Hòa. Đại đồn thất thủ, Trương Định lui quân về Gò Công, tiếp tục tập hợp nghĩa sĩ. Với uy tín của mình, ông nhanh chóng chiêu mộ được lực lượng đông đảo lên tới hàng ngàn người. Nghĩa quân liên tục tiến công, trừng trị những kẻ tay sai phản quốc, đánh đồn Kỳ Hòa, diệt giặc ở Gia Thạch, Rạch Gầm và chiếm lại Gò Công vào tháng 3 năm 1862.

Bước ngoặt lớn nhất trong cuộc đời ông diễn ra vào tháng 6 năm 1862, khi triều đình Huế ký Hòa ước Nhâm Tuất, cắt ba tỉnh miền Đông cho Pháp và ra lệnh cho Trương Định phải bãi binh, đi nhận chức Lãnh binh ở An Giang. Đứng giữa ranh giới mong manh giữa trung quân và ái quốc, Trương Định đã vô cùng lưỡng lự. Chính lúc ấy, nhân dân và các nghĩa sĩ vùng Tân Long (Chợ Lớn) đã viết thư tôn ông làm chủ soái ba tỉnh để tiếp tục giết giặc cứu nước. Trước sự tín nhiệm và lòng can trường của đồng bào, ông quyết định khước từ mệnh lệnh của triều đình, chấp nhận danh hiệu "Bình Tây Đại Nguyên Soái" do nhân dân suy tôn. Ông lấy vùng đất Gò Công làm bản doanh, xây dựng căn cứ kháng chiến hiểm trở tại vùng "Đám Lá Tối Trời".

Dưới sự lãnh đạo của Bình Tây Đại Nguyên Soái, làn sóng kháng chiến bùng lên mạnh mẽ khắp Nam Bộ. Nghĩa quân bẻ gãy nhiều cuộc càn quét quy mô lớn của Pháp, tiêu diệt Đại úy Tu-Rút tại đồn Rạch Tra và tập kích tàu chiến Alarme. Hoảng sợ trước thanh thế của nghĩa quân, quân Pháp điên cuồng bao vây càn quét nhằm tiêu diệt bằng được thủ lĩnh Trương Định. Đêm ngày 19 rạng sáng ngày 20 tháng 8 năm 1864, do sự phản bội dẫn đường của tên Huỳnh Công Tấn, quân Pháp đã bất ngờ đột nhập bao vây bản doanh của ông tại Đám Lá Tối Trời. Trương Định cùng các nghĩa sĩ đã chiến đấu vô cùng quả cảm nhưng ông bị trọng thương. Quyết không để rơi vào tay giặc và để bảo toàn thanh danh khí tiết của người anh hùng, ông đã rút gươm tự sát ở tuổi 44.

Sự hy sinh anh dũng của Trương Định đã để lại niềm tiếc thương vô hạn cùng lòng tôn kính sâu sắc trong lòng người dân Việt Nam. Triều đình Tự Đức sau đó đã truy tặng phẩm hàm và cho lập đền thờ ông tại làng Tư Cung (Quảng Ngãi). Nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu cũng viết 12 bài thơ cùng bài văn tế điếu đầy xúc động để ngợi ca khí tiết bất tử của ông. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đền thờ và lăng mộ của Bình Tây Đại Nguyên Soái Trương Định tại Tiền Giang và Quảng Ngãi luôn nghi ngút khói hương, là biểu tượng vĩnh cửu cho tinh thần yêu nước kiên trung, bất khuất của dân tộc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn