Bình Tây Đại Nguyên Soái và tấm lòng son sắt đất Nam Bộ
Trương Định (1820–1864) quê ở huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, sau theo cha vào Nam lập nghiệp và định cư tại Gò Công (Tiền Giang). Ông là một võ quan nhà Nguyễn, có công lớn trong việc chiêu mộ lưu dân lập đồn điền, khai hoang khẩn hóa vùng đất Nam Bộ. Năm 1859, khi thực dân Pháp nổ súng tấn công gia định, triều đình nhà Nguyễn ký hiệp ước nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp và ra lệnh cho Trương Định bãi binh, giải tán nghĩa quân để sang làm quan ở An Giang. Thế nhưng, trái với lệnh vua, trước tiếng gọi của non sông và sự thiết tha của nhân dân, Trương Định đã dũng bảng phất cờ chống Pháp, được nhân dân và nghĩa sĩ tôn làm Bình Tây Đại Nguyên Soái. Ông đã xây dựng căn cứ Gò Công, lập nên nhiều chiến công vang dội, khiến giặc Pháp kinh hoàng. Năm 1864, do bị kẻ phản bội bán đứng và trọng thương trong một trận chiến không cân sức, ông đã dũng cảm tuẫn tiết để giữ trọn khí tiết trung can, nghĩa đảm.
Lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam là khúc tráng ca bất tận về lòng yêu nước và ý chí kiên cường. Khi thực dân Pháp gót sắt bước vào dải đất Nam Bộ vào nửa cuối thế kỷ XIX, giữa lúc triều đình Huế bối rối chủ hòa, nhân dân ta đã chứng kiến sự xuất hiện lẫy lừng của một người anh hùng áo vải trượng nghĩa – Bình Tây Đại Nguyên Soái Trương Định.
Trương Định sinh ra ở miền Trung nắng gió nhưng gắn bó trọn đời và dành trọn tâm huyết cho vùng đất phương Nam trù phú. Vốn là một võ quan có tài, ông được triều đình cử vào Nam lập đồn điền khai hoang. Với tầm nhìn xa trông rộng và lòng thương dân sâu sắc, ông đã chiêu mộ lưu dân, biến những vùng đầm lầy hoang vu thành những xóm làng trù phú, đồng thời huấn luyện một đội quân đồn điền vừa giỏi sản xuất vừa tinh thông võ nghệ.
Khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm thành Gia Định và mở rộng chiến tranh ra các tỉnh miền Đông, Trương Định cùng nghĩa quân lập tức đứng lên chống giặc. Căn cứ Gò Công dưới sự chỉ huy của ông trở thành nỗi kinh hoàng của quân thù. Bằng chiến thuật du kích linh hoạt, đánh nhanh rút gọn, nghĩa quân phối hợp nhịp nhàng với nhân dân địa phương đã nhiều lần bẻ gãy các đợt càn quét của quân Pháp, tiêu diệt hàng loạt sĩ quan và binh lính giặc. Uy danh của "Bình Tây Đại Nguyên Soái" vang dội khắp Nam Kỳ lục tỉnh.
Thế nhưng, bi kịch lớn nhất xuất hiện khi triều đình nhà Nguyễn do nhút nhát và áp lực trước hỏa lực giặc đã ký Hòa ước Nhâm Tuất (1862), nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp, đồng thời ra lệnh cho Trương Định phải bãi binh, giải tán nghĩa quân và đi nhận chức quan ở An Giang. Đứng giữa hai ngọn lửa: một bên là kỷ cương phép nước, lệnh vua ban; một bên là nghĩa lớn dân tộc, tiếng kêu cứu thiết tha của đồng bào đang rên xiết dưới gót giày giặc, Trương Định đã đưa ra một lựa chọn vô cùng cao cả.
Cảm thấu trước nguyện vọng của nhân dân và các nghĩa sĩ – những người đã quỳ lạy xin ông ở lại đánh giặc, Trương Định đã dõng dạc khước từ lệnh vua, nhận lấy tấm binh khí sắc bén và phất cao ngọn cờ "Bình Tây Đại Nguyên Soái". Hành động ấy là minh chứng sống động cho chân lý: "Lệnh vua phép nước tuy trọng, nhưng lòng dân và sự tồn vong của Tổ quốc còn lớn lao hơn gấp bội".
Đêm ngày 19 tháng 8 năm 1864, do sự phản bội của kẻ tiểu nhân điểm mặt chỉ đường, quân Pháp bất ngờ bao vây căn cứ Tân Phước. Trong trận chiến không cân sức ấy, Trương Định bị trọng thương gãy kiếm. Để không rơi vào tay giặc, giữ trọn vẹn khí tiết của một vị tướng trung can, ông đã tuẫn tiết anh dũng.
Sự hy sinh của Trương Định đã làm chấn động cả nước, khiến kẻ thù cũng phải nể sợ. Tên tuổi của ông đã hóa thành huyền thoại, sống mãi trong lòng người dân Nam Bộ qua những câu ca dao, thơ phú truyền tụng muôn đời. Trương Định mãi là biểu tượng sáng ngời của tinh thần "thà chết chứ không làm nô lệ", là niềm tự hào kiêu hãnh của lịch sử giữ nước Việt Nam.
Bạn có muốn tìm hiểu thêm về các di tích đền thờ anh hùng Trương Định tại Gò Công (Tiền Giang) ngày nay không?



