BỘ ĐỘI TĂNG – THIẾT GIÁP TRÊN CHIẾN TRƯỜNG NAM BỘ VÀ CỰC NAM TRUNG BỘ (B2 - 1965 - 1975)
Đoạn hồi ký khái quát quá trình tăng cường lực lượng tăng – thiết giáp cho chiến trường B2 giai đoạn 1972–1975, đặc biệt là Trung đoàn 201B và các đơn vị bổ sung sau đó, góp phần quan trọng trong Chiến dịch Hồ Chí Minh. Nhờ bảo đảm kỹ thuật tốt, xe tăng tham chiến đạt hiệu suất cao, thu nhiều vũ khí, phương tiện của địch. Bộ đội tăng thiết giáp B2 phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, từ thu gom xe địch đến làm chủ vũ khí hiện đại, lập nhiều chiến công tiêu biểu. Với thành tích đó, Binh chủng đ
Từ những năm 1963 - 1965, Bộ Tổng Tham mưu đã trực tiếp chỉ đạo Trung đoàn Tăng - Thiết giáp 202 tổ chức huấn luyện hai đại đội đặc công cơ giới sử dụng thành thạo xe tăng thiết giáp để vào miền Nam chuẩn bị chiến trường cho tác chiến hợp đồng binh chủng sau này.
Đầu năm 1963, đại đội đặc công cơ giới 46B được cử vào chiến trường B2 (Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ). Tới chiến trường miền Đông Nam Bộ, đại đội 46B được biên chế phân tán về một số đơn vị bộ binh để trực tiếp tham gia chiến đấu tiếp cận dần với phương tiện kỹ thuật hiện đại của địch.
Tháng 2 năm 1964, tôi đang làm nhiệm vụ tiểu đoàn trưởng xe tăng ở Trung đoàn 202 và anh Lâm Kim Chung trong đoàn cán bộ 613 của Bộ tăng cường cho B2 vào tới căn cứ của Bộ chỉ huy Miền, được biên chế ngay về Phòng Tác chiến, rồi Phòng Quân báo. Ít lâu sau, Bộ chỉ huy Miền giao nhiệm vụ cho tôi và anh Lâm Kim Chung tập hợp quân số của đại đội đặc công cơ giới 46B lại để thành lập Ban cơ giới Miền. Trực thuộc ban cơ giới có một trung đội đặc công cơ giới, Ban cơ giới Miền chúng tôi được giao nhiệm vụ:
- Nghiên cứu khả năng sử dụng thiết giáp ở chiến trường B2; vừa nghiên cứu các phương thức đảm bảo kỹ thuật cho công tác huấn luyện và chiến đấu của bộ đội Tăng - Thiết giáp, trước tiên ở chiến trường trọng điểm miền Đông Nam Bộ.
- Đồng thời xúc tiến nghiên cứu huấn luyện cách thức để đoạt xe địch đánh địch.
Ban cơ giới và trung đội cơ giới Miền đầu tiên ấy trở thành đơn vị tiền thân của bộ đội Tăng - Thiết giáp Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tháng 4 năm 1964, Đoàn cán bộ tăng thiết giáp gồm 40 cán bộ, trưởng xe, lái xe, pháo thủ được huấn luyện đặc biệt để tăng cường cho B2, đoàn đã được sáp nhập với trung đội cơ giới của Miền thành đại đội cơ giới, lấy phiên hiệu là C40.
Tháng 3 năm 1965, đoàn 711 gồm 228 cán bộ, chiến sĩ từ Trung đoàn 202 tiếp tục vào miền Đông Nam Bộ, sáp nhập với đại đội cơ giới C40 thành đoàn cơ giới Miền, lấy phiên hiệu J16. Tôi được giao trách nhiệm trưởng Đoàn J16, anh Bùi Tân - Chính ủy, anh Phạm Hà Hải làm Đoàn phó. Khi Đoàn cơ giới J16 chưa có phương tiện kỹ thuật, vũ khí, khí tài, xe pháo nên được biên chế gọn thành bốn đại đội: hai đại đội một và năm sáp nhập thành Đại đội 15, Đại đội hai và ba thành Đại đội 23; Đại đội bốn và sáu thành Đại đội 46, Đại đội 40 giữ nguyên. Một số cán bộ được Bộ chỉ huy Miền cử đi tăng cường cho các đơn vị bộ binh, công binh, đặc công, pháo binh...
Sau khi thành lập Đoàn J16, Bộ chỉ huy Miền giao cho nhiệm vụ tổ chức một số trận đánh để đoạt xe địch, trước mắt làm phương tiện huấn luyện bộ đội. Một trong những trận đánh tiêu biểu, diễn ra ngày 23 tháng 3 năm 1966, Đại đội tăng thiết giáp 40 do đồng chí Lê Như Hòa trực tiếp chỉ huy kết hợp với nội ứng, tập kích bất ngờ vào trung đoàn tăng thiết giáp số một của quân đội Sài Gòn tại căn cứ Gò Đậu (Phú Cường, Bình Dương) với sự phối hợp của ba nội ứng trong hàng ngũ quân ngụy: thiếu úy Phùng Văn Mười, thượng sĩ Nguyễn Văn Thắng, trung sĩ Ngô Văn Nhất.
Các chiến sĩ Đại đội 40 đã chiến đấu vô cùng dũng cảm, làm chủ trận địa trong một thời gian dài, thu 10 xe (bốn xe M41 và sáu xe 113). Nhưng do sử dụng xe địch chưa thành thạo triển khai đội hình chiến đấu chậm, bị máy bay, xe tăng địch phát hiện, bắn phá vào đội hình, khống chế đường ta đưa xe về căn cứ, nghĩa binh Ngô Văn Nhất hy sinh, chỉ còn một chiếc M41-AL do thiếu úy nghĩa binh Phùng Văn Mười điều khiển chạy về hướng Phú Giáo, được đồng chí Vũ Đức Hùng (cán bộ kỹ thuật J16) kịp thời đón ở Bông Trang - Nhà Đỏ, lái thẳng về chiến khu Long Nghĩa.
Chiếc M41-AL trở thành phương tiện đầu tiên, duy nhất đổi bằng máu của chiến sĩ cơ giới Miền, dùng để huấn luyện kỹ thuật binh chủng cho bộ đội B2 lúc đó.
Tháng 4 năm 1967, Quân ủy Miền quyết định sáp nhập Đoàn cơ giới Miền với đơn vị B18 đặc công thành Đoàn Đặc công cơ giới Miền (vẫn lấy phiên hiệu là J16), biên chế tinh gọn thành hai tiểu đoàn đặc công cơ giới mỗi tiểu đoàn có hai đại đội đặc công, một đại đội cơ giới).
Thời gian này, anh Nghiêm Xuân Đẩu làm đoàn trưởng J16, tôi (Mai Văn Phúc) làm Chính ủy, anh Phạm Hà Hải làm tham mưu trưởng, anh Mười Tân làm Chủ nhiệm chính trì. Ngoài lực lượng binh chủng J16, Bộ chỉ huy Miền còn tổ chức nhiều phân đội đặc công cơ giới, biệt phái xuống các đơn vị thuộc Đặc khu Sài Gòn - Gia Định, chiến khu Rừng Sác để nghiên cứu địa hình, tiếp cận dần với phương tiện chiến tranh hiện đại của địch, chờ thời cơ đoạt xe địch. Đồng thời cung cấp thông tin, giúp chỉ huy binh chủng am hiểu chiến trường, điều kiện tác chiến, chiến kỹ thuật của địch. Trên cơ sở đó, chi viện thiết thực sức người sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam.
Ngoài việc huấn luyện cho cán bộ, chiến sĩ binh chủng, J16 còn tập huấn cho nhiều đoàn cán bộ, chiến sĩ các binh chủng bạn như đặc công, công binh, pháo binh, bộ binh... về tính năng kỹ thuật chiến thuật xe tăng M41, để khi tác chiến có thể vận dụng những kiến thức cơ bản về tăng để hạn chế tối đa điểm mạnh và khai thác hết các yếu điểm của xe tăng địch.
Điều đó có ý nghĩa quan trọng trên hai phương diện: một là giúp cấp trên am hiểu về kỹ thuật, chiến thuật xe tăng địch và yêu cầu của chiến trường đặt ra, trên cơ sở đó đề ra được phương châm, phương hướng tổ chức lực lượng, huấn luyện bộ đội tăng thiết giáp, chi viện cho chiến trường miền Nam có hiệu quả. Hai là những hiểu biết về chiến kỹ thuật cùng những thông tin mới về xe tăng.. địch sẽ gây được niềm tin cho bộ đội, nhất là bộ binh, góp phần không nhỏ vào việc củng cố quyết tâm đánh bại chiến thuật “thiết xa vận” của địch.
Một minh họa rõ nét nhất là chiến dịch chống cuộc hành quân càn quét Gian-sơn Xi-ty, lực lượng vũ trang ba thứ quân của ta, đặc biệt là dân quân du kích đã diệt nhiều xe tăng địch bằng vũ khí tự tạo dùng cho bộ binh. Việc nghiên cứu, tìm hiểu xe tăng địch, biên soạn giáo án huấn luyện cho bộ đội khó khăn bao nhiêu thì việc bảo vệ, đảm bảo kỹ thuật cho chiếc xe M41-AL dùng làm phương tiện học tập càng khó khăn gấp bội. Chiếc M41-AL này được cất giấu dưới một căn hầm sâu 4m, rộng 4m, dài 8m, do một tiểu đội cảm tử cơ giới Miền bảo vệ.
Suốt ba năm ròng (1966 - 1968), trong điều kiện ngặt nghèo của chiến tranh trên chiến khu Long Nguyên, bộ đội đặc công cơ giới Miền đã giữ được tình trạng xe tốt trong tư thế sẵn sàng chiến đấu cao. Từ 292 cán bộ, chiến sĩ tăng thiết giáp tập hợp của bốn đoàn chi viện cho chiến trường B2 cùng chiến M41-AL lấy được trong trận Gò Đậu (Bình Dương), Đoàn Đặc công cơ giới Miền Ji6 đã tham gia năm trận tập kích, tám trận chống càn, bắn rơi hai máy bay trực thăng, phá hủy 30 xe tăng thiết giáp địch.
Tháng 9 năm 1968, Bộ chỉ huy Miền ra lệnh rút tiểu đội cảm tử và tháo các trang thiết bị, súng đạn, dụng cụ quang học, thông tin trên chiếc xe máu thịt M41-AL về cứ, còn xe phải chôn giấu và gài mìn bảo vệ dưới lòng đất Long Nguyên. Bộ đội tăng thiết giáp Miền lần nữa phải chia tay, phân tán về các đơn vị trực tiếp chiến đấu, nung nấu ý chí, chờ thời cơ đoạt xe địch đánh địch.
Năm 1970, cách mạng miền Nam phát triển sang giai đoạn tiến công chiến lược. Hậu phương lớn miền Bắc khẩn trương chi viện cao nhất sức người, sức của và phương tiện, trang bị vũ khí hiện đại cho các chiến trường. Trong bối cảnh ấy, ngày 3 tháng 3 năm 1971, Bộ chỉ huy Miền quyết định thành lập Sở chỉ huy tiền phương cơ giới để chuẩn bị đón các đơn vị xe tăng từ Bộ Tư lệnh Tăng - Thiết giáp chi viện vào. Đồng chí Phạm Hà Hải được giao nhiệm vụ tập hợp số cán bộ kỹ thuật đang biệt phái ở các đơn vị về Sở chỉ huy tiền phương cơ giới Miền, làm nhiệm vụ:
- Nghiên cứu xác định vị trí ém trú quân cho các đơn vị tăng thiết giáp của Bộ sẽ vào chiến trường. Chuẩn bị hầm lán cho xe trú quân.
- Chuẩn bị cơ sở vật chất kỹ thuật để đảm bảo kỹ thuật cho xe tiếp tục chiến đấu.
- Chuẩn bị phương án tác chiến mới.
Theo tinh thần đó, các cán bộ, chiến sĩ tăng thiết giáp Miền phân tán xuống các đơn vị trước đây nay lần lượt trở về Sở chỉ huy tiền phương cơ giới... Ngày 25 tháng 5 năm 1971, Sở chỉ huy Tiền phương cơ giới quyết định rút một số cán bộ kỹ thuật ở Sở chỉ huy ra để thành lập đội thu gom tàng thiết giáp địch, lấy phiên hiệu là bộ đội 33, làm nhiệm vụ thu gom tăng thiết giáp địch, vừa huấn luyện cho bộ đội sử dụng các loại xe này trong thời gian ngắn nhất.
Đến tháng 6 năm 1971, số cán bộ kỹ thuật của đoàn đặc công cơ giới Miền Ji6 biệt phái về các đơn vị trực thuộc Đặc khu Sài Gòn - Gia Định và chiến khu Rừng Sác lần lượt trở về đội 33. Quân số của đội từ chín người đã lên tới 64 người và đội 33 trở thành đơn vị tiền thân của Bộ đội Tăng - Thiết giáp miền Đông Nam Bộ, được xây dựng, duy trì và phát triển bằng con đường “từ không đến có”...
Tháng 8 năm 1971, Bộ chỉ huy Miền quyết định thành lập Đoàn thiết giáp Miền, lấy phiên hiệu là M26, nhiệm vụ đẩy mạnh việc xây dựng lực lượng tại chỗ, chuẩn bị đón các đơn vị tăng thiết giáp từ hậu phương lớn miền Bắc chi viện cho chiến trường miền Nam.
Tháng 11 năm 1971, bộ đội tăng thiết giáp Miền chính thức tách khỏi đoàn pháo binh Biên Hòa để kiện toàn một bước về tổ chức. Sự kiện thành lập Đoàn M26 đánh dấu một bước trưởng thành của bộ đội tăng thiết giáp Miền theo phương châm từng bước xây dựng lực lượng và tự đào tạo cán bộ, chiến sĩ binh chủng ngay trên trường, họe thực tế là chiến trường. Sau chiến dịch đường 6, Đầm Be, với sự trợ giúp của Công binh Miền, Đội 33 đã thu gom được năm xe thuộc bốn chủng loại: 2 xe M41, một xe M42, một xe M51, một xe AM6). Vốn liếng tài sản của Đội 33 lúc này có bảy xe (thuộc năm chủng lơ T51, M41, M24, M51 AM6). ‘ Ngày 15 tháng 1 năm 1972, Đoàn M26 quyết định thành lập Đại đội 35 tăng thiết giáp chuyên làm nhiệm vụ thu gom xe địch và huấn luyện chiến kỹ thuật cho bộ đội tăng thiết giáp toàn Miền. Sau khi thành lập Đại đội 35, Đội 33 trở thành bộ đội tăng thiết giáp chiến đấu Từ mốc thành lập Đội 33 (ngày 3 tháng 3 năm 1971) cho đến chiến dịch Hồ Chí Minh, riêng bộ đội tăng thiết giáp miền Đông Nam Bộ đã đào tạo tại chỗ 202 chiến sĩ tăng thiết giáp, tập huấn kỹ thuật 74 cán bộ đoàn M26, huấn luyện giúp một tổ (bảy chiến sĩ) biệt động của Quân đội cách mạng Campuchia về cách đánh và thu gom xe địch. Đến đầu năm 1972, Đội 35 cử tiếp một tổ 15 đồng chí thành thạo kỹ thuật tăng thiết giáp do trung úy Nguyễn Thắng chỉ huy, phối thuộc với bộ đội đặc công Campuchia, tấn công sân bay Pô-chen’tông, giúp bạn thu gom, sửa chữa, bảo dưỡng và sử dụng tăng thiết giáp địch trên chiến trường Campuchia. Ngày 1 tháng 4 năm 1972, Đại đội 33 tăng thiết giáp miền Đông Nam Bộ được lệnh trực tiếp tham gia chiến đấu hợp đồng binh chủng tại mặt trận Ma Sát - Thiện Ngôn, trên hướng thứ yếu (đường 22) trong chiến dịch Nguyễn Huệ, đây là lần xuất trận đầu tiên của bộ đội tăng thiết giáp miền Đông Nam Bộ, và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Ngày 2 tháng 4 năm 1972, Bộ Tư lệnh Binh chủng Tăng - Thiết giáp tăng cường cho một tiểu đoàn xe tăng (phiên hiệu là T20) có 32 xe tăng T54b, ba xe cao xạ 57 ly ba xe công trình. Tiểu đoàn vừa tới vị trí tập kết, chưa kịp làm bảo dưỡng, khôi phục kỹ thuật xe thì đêm 6 rạng ngày 7 tháng 4 năm 1972, tiểu đoàn đã tham gia trận đánh hợp đồng binh chủng vào chi khu quân sự Lộc Ninh, chính thức mở màn chiến dịch Nguyễn Huệ.
Yếu tố bí mật bất ngờ trong sử dụng tăng thiết giáp lần nữa tạo điều kiện cho bộ đội Sư 5 bộ binh thực hiện thắng lợi trận đánh then chốt Lộc Ninh, tiêu diệt Chiến đoàn 9 và Thiết đoàn 52 ngụy, bắt sống đại tá chiến đoàn trưởng, mở ra vùng giải phóng Lộc Ninh. Lộc Ninh đã trở thành một địa điểm lịch sử - Thủ đô kháng chiến của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Trong chiến dịch này, Đội 35 sau 12 ngày đêm (từ ngày 2 tháng 4 đến 12 tháng 4 năm 1972) đã thu gom được tại Lộc Ninh 27 xe các loại cùng sáu tấn phụ tùng. Mơ ước đoạt xe địch để đánh địch của bộ đội tăng thiết giáp miền Đông Nam Bộ bấy lâu nay đã trở thành hiện thực.
Giữa những ngày chiến sự Bình Long ác liệt, từ miền Bắc lại tăng cường cho B2 Tiểu đoàn tăng thiết giáp T21: 14 xe tăng, 6 xe bọc thép, bốn xe cao xạ, hai xe công trình.
Tháng 4 năm 1972, lại được bổ sung từ miền Bắc vào miền Đông Nam Bộ Tiểu đoàn 25A, trang bị 20 xe tăng T54, T59.
Đến tháng 7 năm 1972, tiếp nhận thêm Tiểu đoàn tăng 25B, có 20 xe tăng T54, 10 xe K63. Sau 120 ngày đêm hành quân gian khổ tới vị trí tập kết ở Bù Đốp, hai Tiểu đoàn 25A và 25B còn có 36 xe có 26 xe T54, 10 xe 63 và một xe công trình), hai đoàn này được bổ sung cho các tiểu đoàn có trước.
Tháng 8 năm 1972, lại được Bộ Tổng tham mưu và Bộ Tư lệnh Tăng - Thiết giáp tăng cường thêm mốt đại đội xe bọc thép bánh hơi, gồm 20 xe BTR-60PB hành quân vào chiến trường. Nhưng chỉ tới vị trí tập kết ở Bù Đốp có 8 xe, sau thu thêm được 2 xe. Như vậy đại đội xe bánh hơi nước trước khi bước vào cuộc chiến có 10 xe.
Để tiếp tục chi viện cho chiến trường, ngày 19 tháng 12 năm 1972, Bộ Tư lệnh Tăng - Thiết giáp tăng cường tiếp Trung đoàn 201B gồm hai tiểu đoàn chiến đấu (di và d5) được trang bị 48 xe (T54, T59, K63). Sau 70 ngày đêm hành quân, Trung đoàn 201B đã tới Bù Đốp nhưng 15 xe phải sửa chữa dọc đường phải đến tháng 11 năm 1972 mới tới chiến trường).
Sau khi tới vị trí tập kết, Tiểu đoàn 1 đổi phiên hiệu thành Tiểu đoàn 22. Tiểu đoàn 5 bổ sung cho hai Tiểu đoàn 20 và 2 1. Đại đội 1 nhập với Đại đội 35 thành Tiểu đoàn 24 huấn luyện. Đại đội thiết giáp của Trung đoàn 201 sáp nhập với đại đội thiết giáp miền Đông hồi tháng 8 năm 1972 thành Tiểu đoàn 23.
Như vậy đến tháng 4 năm 1973, bộ đội tăng thiết giáp Miền có năm tiểu đoàn (d20, d21, d23, d25a, d25b) và hai Đại đội 33 và 52 là những đơn vị chiến đấu Ngoài ra còn có Tiểu đoàn 24 là đơn vị huấn luyện. Song song với việc tiếp nhận Đoàn 201B, Đoàn M26 đã tổ chức bộ phận tiếp nhận phụ tùng, vật tư do Bộ Tư lệnh Tăng - Thiết giáp chuyển theo đường vận chuyển của Bộ Quốc phòng vào B2 kết hợp. Tính đến cuối năm 1974, bộ đội tăng thiết giáp Miền có tổng cộng 635 tấn, chuẩn bi cho chiến cuộc năm 1975.
Vào tháng 2 năm 1975, Bộ Tổng tham mưu điều Tiểu đoàn 3 T54 của Quân đoàn 4 tâng cường cho Đoàn M26. Vào tháng 3 năm 1975, và thêm hai tiểu đoàn tăng thiết giáp của Lữ đoàn 215 gồm 63 xe Tăng T54, T59 và K63-85 (xe tăng pháo 85 ly bơi nước). Tất cả đến chiến trường an toàn.
Sau hai ngày giao nhận tại Bù Đốp, cả ba đơn vị hành quân tham gia đội hình chiến đấu ngay. - Tiểu đoàn 1 theo hướng Tiểu đoàn 21 về Lâm Đồng Túc Trơng - Tráng Bom - Xuân Lộc - Hố Nai. “ - Tiểu đoàn 2 theo hướng Tiểu đoàn 23, Đại đội 33 về Hậu Nghĩa - miền Tây - Tiểu đoàn 3 theo hướng Tiểu đoàn 20 tăng cường cho Quân đoàn 4 từ hướng Xuân Lộc vào.
Trước khi vào chiến dịch Hồ Chí Minh, toàn bộ xe đều được bảo dưỡng kỹ thuật. Nhờ vậy, suốt chiến dịch ta chỉ có 13 xe phải hủy. Sau chiến dịch ta đã thu gom được của địch 478 xe tăng thiết giáp, 429 Ô tô các loại cùng nhiều vũ khí và phương tiện bảo đảm kỹ thuật.
Suốt chiều dài cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, bộ đội tăng thiết giáp trên chiến trường B2 luôn phát huy tinh thần tiến công, quyết tâm làm chủ vũ khí kỹ thuật, đêm ngày lăn lộn với xe pháo, khí tài, kiên trì học tập, rèn luyện chiến đấu từ tay không đoạt xe địch đánh địch. Lấy việc tự đào tạo tại thực tế chiến trường, kết hợp với đội ngũ cán bộ, chiến sĩ binh chủng được đào tạo chính quy, tổ chức lực lượng binh chủng kỹ thuật hiện đại tại chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ bằng nguồn tại chỗ cộng nguồn hậu phương chi viện.
Bộ đội tăng thiết giáp B2 với tinh thần chủ động, sáng tạo đã biến sự hiểu biết sâu về khoa học kỹ thuật của binh chủng thành bản lĩnh của mình để khi bước vào chiến đấu phát huy được thế mạnh vũ khí trang bị của một binh chủng kỹ thuật hiện đại. Từ những phong trào thi đua “dạy hay, học giỏi”, “tiến quân vào khoa học kỹ thuật”, đến phong trào phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật “mỗi ngày một sáng kiến, mỗi ngày một chiến công” hay “óc nghĩ những điều hay, tay làm những việc tốt”... bộ đội tăng thiết giáp B2 đã không ngừng nâng cao chất lượng huấn luyện và hiệu suất chiến đấu cao, có những gương điển hình như chính trị viên Đại đội 1 (Tiểu đoàn 21 Anh hùng) Nguyễn Xuân Liêm, trong trận Phước Long, anh chỉ huy ba xe, khi hai xe bạn gặp khó khăn, anh mưu trí tăng tốc độ dùng xích sắt đè bẹp các lớp rào kẽm gai, thọc sâu vào căn cứ địch, tạo điều kiện cho bộ đội tấn công giành thắng lợi.
Đại đội 33 anh hùng, đơn vị tiền thân của bộ đội tăng thiết giáp miền Đông Nam Bộ, từ một đơn vị thu gom xe địch trở thành đơn vị chiến đấu. Trong trận đầu ra quân tại mặt trận Sa Mát - Thiện Ngôn (Tây Ninh), đại đội đã sử dụng ba loại xe mới đoạt được của địch là M24, M41. M51 bất ngờ bí mật đánh địch, giành thắng lợi giòn giã theo phương châm ‘lấy gậy ông đập lưng ông”... Với những thành tích ấy, bộ đội tăng thiết giáp đã góp phần làm nên truyền thống vẻ vang của Binh chủng “Đã ra quân là đánh thắng”, xứng đáng với lời khen của Chủ tịch Tôn Đức Thắng: “Bộ đội tăng thiết giáp của chúng ta tuổi trẻ mà nhiều chiến công”.
Ngày 20 tháng 10 năm 1976, Binh chủng Tăng - Thiết giáp được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyết định tuyên dương Anh hùng các lực lượng vũ trang. Vinh dự đó có phần đóng góp không nhỏ của bộ đội Tăng - Thiết giáp B2 và miền Đông Nam Bộ. Riêng lực lượng Tăng - Thiết giáp ở B2 cũng có 2 đơn vị được tuyên dương anh hùng: Tiểu đoàn 21, Đại đội 33 và hai cá nhân là Nguyễn Xuân Liêm và Phạm Văn Cán.


