Bộ trưởng Phan Anh
Bộ trưởng Phan Anh
Luật sư Phan Anh (1912 –1990), quê ở làng Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Cha của đồng chí là nhà nho Phan Điện. Đồng chí còn có một người em ruột là Phan Mỹ cũng là một luật sư (về sau là Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Phủ Thủ tướng). Mồ côi mẹ từ năm 10 tuổi, đồng chí cùng với người em theo cha lưu lạc khắp nơi. Tuy sống cực khổ, nhưng được sự giáo dục của cha, cả 2 anh em đồng chí đều học giỏi. Năm 1926, đồng chí giành được suất học bổng nội trú của Trường Bưởi, Hà Nội.Sau khi tốt nghiệp Tú tài, đồng chí theo học ngành Luật tại Trường Đại học Đông Dương, Hà Nội. Trong thời gian theo học ở đây, đồng chí tham gia hoạt động xã hội, là Chủ tịch Tổng hội Sinh viên và vào Đảng Xã hội Pháp. Vừa học, đồng chí vừa tham gia dạy học ở trường Gia Long và trường Thăng Long. Năm 1937, Phan Anh tốt nghiệp Cử nhân Luật ở vị trí thứ 2. Năm 1938, đồng chí sang Pháp để bảo vệ luận án Tiến sĩ Luật, nhưng Thế chiến thứ hai bùng nổ nên đồng chí không kịp bảo vệ luận án và phải về nước năm 1940, hành nghề luật sư tại văn phòng của luật sư Bùi Tường Chiểu. Năm 1940, Phan Anh cùng Vũ Đình Hòe, Vũ Văn Hiền, thành lập báo Thanh Nghị (1941-1945) mong muốn đóng góp ý kiến của nhóm đồng chí trước quốc dân. Đồng chí là một trong 5 cây bút trụ cột của báo này, phụ trách nhiều chuyên mục của báo. Tuy là một luật sư nhưng nhờ biết chữ Hán, thông hiểu triết, văn, sử Trung Hoa (cả cổ học và tân học) nên các bài viết của đồng chí rất có giá trị về cả phổ thông và chuyên môn. Sau khi Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương ngày 9/3/1945, Bảo Đại mời đồng chí và một số trí thức trẻ vào Huế tham khảo ý kiến về việc Nhật "trao trả độc lập" cho Việt Nam và để thành lập nội các mới. Sau đó đồng chí được mời giữ chức Bộ trưởng Bộ thanh niên trong chính phủ Trần Trọng Kim. Thời gian này, đồng chí có sáng kiến thành lập đoàn Thanh niên Tiền tuyến (còn gọi là Thanh niên Phan Anh, Thanh niên Xã hội). Cách mạng tháng Tám bùng nổ, đồng chí từ chức cùng với nội các Trần Trọng Kim về sống tại Hà Nội. Sau khi Quốc hội khóa 1 được bầu cử ngày 6/1/1946 và thành lập Chính phủ Liên hiệp Quốc gia, đồng chí được mời giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Đến tháng 7/1946, đồng chí được Chính phủ giao chức Tổng thư ký phái đoàn Chính phủ Việt Nam (Trưởng đoàn là đồng chí Phạm Văn Đồng) đi dự hội nghị Fontainebleau đàm phán với chính phủ Pháp. Sau ngày Toàn quốc kháng chiến, 19/12/1946, đồng chí tham gia kháng chiến chống Pháp suốt 9 năm (1946-1954). Năm 1947, đồng chí giữ chức Bộ trưởng Bộ Kinh tế, thành viên Hội đồng Quốc phòng Tối cao (năm 1949). Tháng 7/1954, đồng chí là phái viên phái đoàn Việt Nam tham dự Hội nghị Genève. Sau năm 1954, đồng chí giữ các chức vụ Bộ trưởng Bộ Công thương (từ tháng 5/1951 đổi tên Bộ Kinh tế là Bộ Công thương), Bộ trưởng Bộ Thương nghiệp (từ tháng 9/1955 đến tháng 4/1958), Bộ trưởng Bộ Ngoại thương (từ tháng 5/1958 đến năm 1976) trong Chính phủ Việt Nam, Phó Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đồng chí là người cùng với Luật sư Nguyễn Mạnh Tường sáng lập hội Luật gia Việt Nam làm Chủ tịch hội và Thường vụ hội Luật gia quốc tế; Chủ tịch Hội đồng Hòa bình Thế giới của Việt Nam và Phó Chủ tịch Hội đồng Hòa bình Thế giới. Từ năm 1988, đồng chí còn là Phó Chủ tịch Đoàn chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Với những thành tích của đồng chí trong quá trình công tác, đồng chí được Đảng, Nhà nước trao tặng: Huân chương Độc lập hạng Nhất, Kỷ niệm chương “Bảo vệ hòa bình” của Liên hợp quốc, Huy chương Vàng Giôliô Quyri của Hội đồng Hòa bình thế giới và nhiều phần thưởng cao quý khác.



