Khác

Bông Hoa cài mái tóc

Sáng ngày 23/1/1952, khi tiếng xích sắt lôi đi trên nền đá nhà tù Côn Đảo khô khốc, người ta thấy một thiếu nữ dáng người nhỏ nhắn, mặc bộ quần áo bà ba trắng, mái tóc đen mượt dắt một bông hoa tươi vừa hái trong vườn giám ngục. Đó là chị Sáu. Trước khi ra pháp trường, một viên sĩ quan Pháp hỏi: "Cô có muốn bịt mắt không?". Chị Sáu nhìn thẳng vào hắn, ánh mắt bình thản nhưng đanh thép: "Không cần, tôi muốn nhìn thấy đất nước tôi đến giây phút cuối cùng."

Quảng Ninh12/04/2026Đoàn Phường Liên Hòa (Đoàn Phường Liên Hòa)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sáng ngày 23/1/1952, khi tiếng xích sắt lôi đi trên nền đá nhà tù Côn Đảo khô khốc, người ta thấy một thiếu nữ dáng người nhỏ nhắn, mặc bộ quần áo bà ba trắng, mái tóc đen mượt dắt một bông hoa tươi vừa hái trong vườn giám ngục. Đó là chị Sáu.

Trước khi ra pháp trường, một viên sĩ quan Pháp hỏi: "Cô có muốn bịt mắt không?". Chị Sáu nhìn thẳng vào hắn, ánh mắt bình thản nhưng đanh thép:

"Không cần, tôi muốn nhìn thấy đất nước tôi đến giây phút cuối cùng."

Trên đường đi, chị không hề run sợ. Chị cất cao tiếng hát, bài Tiến quân ca vang lên giữa không gian tĩnh lặng của nghĩa trang Hàng Dương. Những người tù chính trị đang bị giam cầm nghe tiếng hát ấy đều đứng dậy, bám chặt vào song sắt, hô vang tên chị.

Khoảnh khắc bất tử tại huyệt mộ

Đứng trước họng súng của quân thù, khi tên đội trưởng hô "Chuẩn bị!", chị Sáu bất ngờ ngắt lời bằng một câu nói chấn động:

"Chỉ có bọn xâm lược mới là kẻ có tội, còn tôi, tôi không có tội!"

Khi loạt súng vang lên, chị không gục xuống ngay mà vẫn rướn người hô vang: "Hồ Chủ tịch muôn năm!". Chị ngã xuống khi tuổi đời chưa đầy 19, nhưng khí tiết của chị đã khiến những tên đao phủ phải run rẩy hạ súng.

Trong chiến dịch Biên giới Thu Đông 1950, anh lính trẻ La Văn Cầu lúc đó mới 18 tuổi, được giao nhiệm vụ ôm bộc phá đánh lô cốt địch tại cụm cứ điểm Đông Khê.

Khoảnh khắc sinh tử: Khi đang xông lên, ông bị trúng đạn pháo của địch. Một viên đạn làm gãy nát cánh tay phải, một viên khác trúng vào má phải. Ông ngất đi, nhưng khi tỉnh dậy, ý nghĩ đầu tiên không phải là nỗi đau mà là: "Bộc phá chưa nổ, nhiệm vụ chưa xong".

Hành động phi thường: Cánh tay phải bị gãy lìa, lủng lẳng vướng víu không thể cầm bộc phá chạy tiếp được. Ông đã đưa cánh tay cho đồng đội và nói một câu chấn động: "Chặt hộ tôi cánh tay này để tôi đi đánh giặc".

Kết quả: Đồng đội nghiến răng dùng lưỡi mác chặt đứt cánh tay vướng víu ấy cho ông. La Văn Cầu nén đau, một tay ôm bộc phá, vượt qua lửa đạn, lao lên giật kíp nổ phá tan lô cốt địch, mở đường cho đơn vị tiến lên giành thắng lợi.

Bác Nguyễn Văn Thắng, một cựu lái xe của Tiểu đoàn 101, thường kể lại những đêm "chạy mù" trên cung đường lửa:

Cái khó ló cái khôn: Xe của bác bị bom đánh vỡ sạch kính chắn gió. Đêm rừng Trường Sơn lạnh buốt, gió lùa vào rát mặt, bụi đất bay mù mịt làm mắt đỏ hoe. Để không bị hất văng khỏi ghế khi xe xóc, bác phải lấy dây cao su buộc chặt mình vào ghế lái.

Tình đồng chí: Có lần xe hỏng giữa rừng đúng lúc máy bay địch thả pháo sáng rực trời. Các bác không bỏ xe mà lấy cành cây ngụy trang, rồi nằm rạp xuống đất. Lúc đó, một đồng đội đi qua chia cho bác nửa nắm cơm vắt đã cứng ngắc và bát canh rau tàu bay nấu vội trong ống tre. Bác Thắng kể: "Lúc đó bát canh ấy quý hơn mọi thứ cao lương mỹ vị trên đời, vì nó có vị mặn của muối và vị ấm của tình người".

Chi tiết "hoa lửa": Dù xe hỏng, dù đói, nhưng khi nghe tiếng pháo cao xạ của ta bắn trả máy bay địch, các bác lại hò nhau đẩy xe, sửa máy để kịp giao hàng cho tiền tuyến đúng bình minh.

60 năm trước có một Đội Thanh niên xung phong đặc biệt đã viết lên huyền thoại giữa Trường Sơn. Cho đến hôm nay họ vẫn bền bỉ "thắp lửa" yêu nước cho thế hệ trẻ.

60 năm đã trôi qua kể từ ngày Đội Thanh niên xung phong (TNXP) K53 ra đời (13.7.1965 - 13.7.2025), nhưng ký ức về một đơn vị đặc biệt - Đội TNXP duy nhất của Đoàn Thanh niên được cử vào chiến trường miền Nam, vẫn còn vẹn nguyên trong lời kể của đồng chí Đỗ Quốc Phong, Trưởng ban Liên lạc K53, nguyên Chủ tịch Hội Cựu TNXP Hà Nội. Với ông, mỗi con đường, mỗi bến sông năm xưa đều thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và máu của đồng đội.

Mở đường, gùi hàng, vượt sông trong lửa đạn

Năm 1965, khi đế quốc Mỹ chuyển sang chiến lược "Chiến tranh cục bộ", miền Bắc phải đối mặt với những đợt ném bom ác liệt. Trước yêu cầu cấp bách của chiến trường Trị - Thiên - Huế, T.Ư Đoàn quyết định thành lập Đội TNXP K53, một đơn vị đặc biệt với 343 đội viên được tuyển chọn kỹ lưỡng từ Hà Tây, Nam Định, Ninh Bình (cũ) và một số cán bộ, y bác sĩ người Quảng Trị - Huế. Đây là Đội TNXP duy nhất của Đoàn Thanh niên được cử vào chiến trường miền Nam.

Đồng chí Bùi Quang Huy, Phó chủ tịch Ủy ban T.Ư MTTQ VN, Bí thư thứ nhất T.Ư Đoàn, tặng hoa chúc mừng đồng chí Đỗ Quốc Phong (giữa) dịp kỷ niệm 60 năm thành lập Đội TNXP K53.

Ngày 13.7.1965, các đội viên tập trung tại Trường Đoàn (Cầu Giấy, Hà Nội) để huấn luyện. Sau hơn 1 tháng huấn luyện, ngày 16.8.1965, K53 làm lễ xuất quân, chính thức lên đường vào chiến trường miền Tây Trị - Thiên. Nhiệm vụ của họ không chỉ là mở đường, vận tải, mà còn làm công tác thanh vận, dân vận. Đây là điểm độc đáo của K53, khi các đội viên được trang bị như cán bộ dân chính, sẵn sàng cho những thử thách cam go phía trước.

Theo đồng chí Đỗ Quốc Phong, hành trình của K53 là chuỗi ngày dài kiên cường và gian khổ. Sau 2 tháng hành quân bộ, Đội K53 đến A Lưới (Thừa Thiên) chờ nhận nhiệm vụ. Khi chiến trường trở nên ác liệt, vùng giải phóng Trị - Thiên bị thu hẹp, đội nhận lệnh hành quân ngược ra bắc sông Bến Hải, rồi rẽ xuống xã Vĩnh Ô. Từ đây, các đội viên lại vượt sông Bến Hải để mở con đường mới song song với đường mòn Hồ Chí Minh, nối liền từ nam Bến Hải đến nam sông Ba Lòng (Quảng Trị). Trên tuyến đường này, K53 thiết lập 8 trạm vận chuyển vũ khí, hàng hóa, thuốc men vào Nam và cáng thương binh ra Bắc.

"Hai tiểu đội Ninh Bình và một tiểu đội Hà Tây được giao nhiệm vụ lái đò và bảo vệ bến đò Cà Ná trên sông Ba Lòng, nằm giữa cứ điểm 241 và cứ điểm Đầu Mầu. Hằng đêm, hàng chục tấn hàng hóa và nhiều đoàn cán bộ, chiến sĩ vượt sông trên những chiếc đò độc mộc chỉ chở được 6 - 7 người, giữa dòng nước xiết và đá ngầm", đồng chí Phong nhớ lại. Ban đầu, mỗi đội viên chỉ gùi được 20 - 24 kg mỗi chuyến. Sau đó, bằng ý chí và rèn luyện, họ nâng lên 40 - 46 kg/chuyến, thậm chí nhiều người đạt năng suất 26 - 28 ngày công/tháng.

Đến cuối năm 1966 - đầu 1967, trước nhu cầu vận chuyển ngày càng lớn, các đội viên K53 đề xuất phối hợp với Đoàn vận tải Bắc Sơn (chủ yếu là chiến sĩ đồng bào dân tộc Tà Ôi, Vân Kiều) và Tiểu đoàn 8 của Quân khu 4. Sự kết hợp này đã hình thành tuyến đường Bắc Sơn, kéo dài từ nam Bến Hải đến bắc Hải Vân - tuyến huyết mạch chi viện cho chiến trường. Đặc biệt, nhờ sự phối hợp giữa K53 và cán bộ, du kích địa phương, một con đò lớn có thể chở cả trung đội qua sông đã ra đời, tồn tại cho đến khi Hiệp định Paris được ký kết năm 1973.

K53 trở thành lực lượng nòng cốt trong công tác vận tải và giao liên trên các tuyến đường mới do Quân khu Trị - Thiên - Huế mở rộng, kết nối với đường dây 559 và các nhánh đường ngang xuống đồng bằng, chi viện cho bộ đội địa phương.

Vinh quang và máu lửa

Cuối năm 1967, với thành tích xuất sắc, Đội K53 được cử 2 đại biểu dự Đại hội Anh hùng, Chiến sĩ thi đua Quân khu. Đội được suy tôn là lá cờ đầu ngành hậu cần Quân khu và vinh dự nhận Huân chương Chiến công hạng nhất. Đồng chí Đỗ Quốc Phong và Đại đội trưởng Nguyễn Nam Hải là 2 đại biểu tiêu biểu được trao danh hiệu Chiến sĩ thi đua. Hàng chục đội viên được phong danh hiệu "Dũng sĩ quyết thắng" và "Dũng sĩ vận tải" cấp ưu tú.

Nhớ lại những ngày tháng oanh liệt, đồng chí Đỗ Quốc Phong không khỏi bùi ngùi về những đồng đội đã không thể trở về. Trên chiến trường ác liệt ấy, K53 đã ghi dấu nhiều chiến công và cả những mất mát không thể nào quên. Trung đội phó Trịnh Đình Chu (Yên Khánh, Ninh Bình) anh dũng chiến đấu, hạ 13 tên địch, khi hết đạn đã đập vỡ súng, dùng AK chiến đấu đến cùng và hy sinh. Đồng chí Hoàng Văn Hợp và ông Lê Thống dùng súng thu hút hỏa lực máy bay địch, hy sinh để đồng đội rút vào rừng. Đồng chí Lê Huân dùng súng bộ binh bắn hạ trực thăng địch. Trung đội trưởng Nguyễn Tiền Bách và Tiểu đội trưởng Nguyễn Danh Nhiễm hy sinh khi chiến đấu với biệt kích đối phương… "Hình ảnh anh nuôi Nguyễn Văn Còn ngay trước khi hy sinh vẫn lo nồi cơm bị cháy, sợ anh em đói đã trở thành biểu tượng cao đẹp của tình đồng chí, đồng đội", Đồng chí Đỗ Quốc Phong nghẹn ngào kể.

Kháng chiến kết thúc, 111 đội viên K53 hy sinh, 167 người bị thương và nhiều người khác chịu sức ép, nhiễm chất độc da cam. Nhưng chính từ gian khổ, mất mát ấy, tên tuổi của K53 đã trở thành huyền thoại trong lực lượng TNXP VN.

Mong lớp trẻ hôm nay hiểu được giá trị của hòa bình

Sau ngày đất nước thống nhất, những thanh niên K53 năm xưa trở về với cuộc sống đời thường. Có người thành kỹ sư, bác sĩ, thầy giáo; có người tiếp tục phục vụ trong quân đội, mang phẩm chất TNXP vào công cuộc xây dựng Tổ quốc. Trong hơn 3 thập niên qua, các cựu TNXP K53 đã góp phần quan trọng vào phong trào cựu TNXP cả nước. Nhiều người là hạt nhân tích cực trong các hoạt động xã hội, chăm lo cho đồng đội khó khăn…

Với những thành tích đặc biệt, Đội K53 đã được Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân; được tặng Cờ thi đua xuất sắc năm 1967 - 1972. Đặc biệt, các đội viên K53 đã nhận hàng ngàn huân chương chiến công các loại.

Năm 2025, kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Đội K53, đồng chí Đỗ Quốc Phong xúc động nói: "Chúng tôi, những người còn lại, chỉ mong lớp trẻ hôm nay hiểu được giá trị của hòa bình. Những con đường chúng tôi mở năm xưa không chỉ để vận chuyển vũ khí, mà còn là con đường đi tới độc lập, tự do. Giữ gìn hòa bình hôm nay chính là tiếp nối con đường ấy".

Từ những năm tháng hành quân giữa rừng Trường Sơn đến cuộc sống bình dị hôm nay, Đội TNXP K53 luôn là biểu tượng của lòng dũng cảm, tinh thần xung phong và niềm tin sắt son vào Đảng, vào Tổ quốc. "Đội TNXP K53 là một đơn vị đặc biệt, với chiến công đặc biệt và truyền thống đặc biệt", đồng chí Đỗ Quốc Phong tự hào khẳng định. 60 năm qua, những người lính TNXP năm nào vẫn âm thầm viết tiếp trang sử của mình trong hành trình truyền lửa yêu nước cho thế hệ trẻ hôm nay.

Hơn 40 năm qua, nơi núi rừng biên cương Pò Hèn, câu chuyện về những người lính Đồn Biên phòng Công an nhân dân vũ trang 209 và người Anh hùng, liệt sĩ Đỗ Sĩ Họa quả cảm, kiên cường chiến đấu với quân thù luôn là khúc tráng ca tươi đẹp nhất.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn