Bông Hoa Lửa Mang Tên Thái Thị Bôi - ĐHYK10B
Có những con người đi qua chiến tranh mà tên tuổi không khắc trên bia đá, không được nhắc đến nhiều trong sách sử, nhưng cuộc đời họ lại lặng lẽ tỏa sáng như ngọn đèn không bao giờ tắt Thái Thị Bôi là một cái tên như thế
Có những con người đi qua chiến tranh mà tên tuổi không khắc trên bia đá, không được nhắc đến nhiều trong sách sử, nhưng cuộc đời họ lại lặng lẽ tỏa sáng như ngọn đèn không bao giờ tắt Thái Thị Bôi là một cái tên như thế. Tên bà không vang dội như những vị tướng ngoài chiến trường. Không nhiều sách báo viết về bà. Không tượng đài lớn lao, không những dòng ca ngợi rực rỡ. Nhưng nếu ai từng sống trong những năm tháng khói lửa ấy, từng chứng kiến những người phụ nữ Việt Nam gầy gò mà bất khuất, lam lũ mà phi thường, sẽ hiểu rằng: có những con người bình dị đến mức cả đời chỉ lặng lẽ đứng sau, nhưng chính họ mới là nền móng âm thầm giữ cho đất nước đứng vững .
Bà sinh ra ở một miền quê nghèo. Nơi ấy có con sông nhỏ quanh năm chở phù sa, có cánh đồng lúa chạy dài đến tận chân trời, có hàng tre già rì rào mỗi khi gió về. Tuổi thơ của bà đơn sơ như hầu hết những đứa trẻ quê thời ấy: sáng theo mẹ ra đồng, trưa mò cua bắt ốc, chiều chăn trâu ngoài bãi cỏ, tối nằm nghe bà kể chuyện cổ tích bên ngọn đèn dầu leo lét.
Ngày ấy, cô bé Bôi có đôi mắt rất sáng. Người làng thường bảo:
“Con bé này lớn lên chắc chắn là người cứng cỏi.”
Bởi từ nhỏ bà đã khác những đứa trẻ khác. Trong khi nhiều đứa còn mải chơi, bà đã biết đỡ đần mẹ gánh nước, biết nhường phần cơm ít ỏi cho em, biết đứng rất lâu bên hiên nhìn cha vá lại chiếc áo rách mà không nói gì. Cái nghèo khiến trẻ con lớn nhanh hơn tuổi. Và chiến tranh khiến người ta già đi trước thời gian.
Rồi một ngày, tiếng súng đầu tiên vọng về làng. Người lớn đang cấy ngoài đồng bỏ chạy tán loạn. Trẻ con khóc thét. Đàn trâu hoảng loạn dẫm nát cả ruộng lúa non. Khói bốc lên từ đầu xóm. Từ hôm ấy, tuổi thơ của Thái Thị Bôi khép lại. Chiến tranh đến như cơn bão dữ. Nó cướp đi tiếng cười, cướp đi giấc ngủ, cướp đi cả những bữa cơm yên lành. Những mái nhà cháy đen. Những người đàn ông rời làng ra trận. Những người mẹ ngồi bên cửa ngóng con đến bạc tóc. Những đứa trẻ lớn lên mà không biết mặt cha.
Bôi khi ấy mới là cô gái tuổi trăng tròn. Độ tuổi đáng lẽ được mặc áo mới ngày xuân, được e thẹn nghe người ta dạm hỏi, được mơ về một mái nhà nhỏ. Nhưng cô gái ấy đã gói tuổi xuân mình vào chiếc khăn nâu, rồi bước theo cách mạng. Những năm tháng ấy, bà làm giao liên. Công việc nghe qua giản dị, nhưng là mạng sống treo trên từng bước chân. Ban ngày bà là cô thôn nữ gánh rau qua chợ, là người phụ nữ đi tìm củi trong rừng, là người gánh nước ngang làng. Nhưng khi đêm xuống, bà trở thành người mang thư mật, tải gạo, đưa thuốc men và dẫn đường cho cán bộ.
Con đường bà đi không có hoa, chỉ có bùn lầy, gai nhọn và hiểm nguy. Có những đêm trăng sáng quá, bà phải nằm ép người xuống ruộng cỏ hàng giờ chỉ vì sợ bị phát hiện. Có những hôm mưa như trút nước, đường rừng trơn trượt, bà ngã xuống vực rồi lại tự bò lên. Có những lần đói lả người, bà nhai vội nắm sắn khô rồi tiếp tục đi. Đôi vai người con gái nhỏ ấy sớm chai cứng vì quai gùi. Bàn chân nứt nẻ vì đá sắc. Nhưng chưa một lần bà than thân trách phận. Bởi bà hiểu, phía trước nơi chiến khu, những người lính còn thiếu gạo. Những thương binh còn cần thuốc. Những lá thư còn mang theo niềm tin sống của bao người. Một chuyến đi chậm trễ có thể đổi bằng mạng sống của đồng đội. Có lần, bà đi qua cánh rừng sâu mang thuốc cho đơn vị. Trời gần sáng thì gặp địch phục kích. Đồng đội chạy tản ra mỗi người một hướng. Bà ôm túi thuốc lao vào bụi rậm. Chúng lùng sục suốt nhiều giờ. Gai rừng cào rách da thịt, kiến cắn buốt người, máu từ đầu gối chảy xuống cổ chân. Nhưng bà không dám động đậy. Bà kể lại rằng lúc ấy, bà chỉ nghĩ đến một điều:
“Nếu mình bị bắt, thuốc mất. Nếu thuốc mất, thương binh sẽ chết.”
Đến khi trời tối hẳn, bà mới bò ra khỏi bụi rậm. Quần áo rách tả tơi, người sốt run vì đói khát, nhưng túi thuốc vẫn được ôm chặt trước ngực như ôm chính sinh mạng đồng đội mình. Khi bà đến nơi, một chiến sĩ bị thương nặng đã nắm lấy tay bà mà khóc. Anh nói:
“Tôi tưởng mình không qua khỏi.”
Bà chỉ cười, nụ cười hiền và mệt đến mức không còn sức nói. Nhưng chiến tranh đâu chỉ lấy sức lực con người. Nó còn xé nát trái tim họ. Cha bà mất trong một trận càn. Người em trai duy nhất cũng hy sinh khi mới mười chín tuổi. Tin báo tử gửi về bằng một tờ giấy mỏng. Mẹ bà ôm tờ giấy ấy mà ngất lịm giữa sân.
Đêm hôm đó, bà ngồi bên mẹ, không khóc. Chỉ lặng im nhìn ngọn đèn dầu chập chờn.
Sáng hôm sau, bà vẫn lên đường làm nhiệm vụ.
Có người hỏi:
“Nhà còn tang, sao chị đi?”
Bà đáp rất khẽ:
“Nếu ai mất người thân cũng dừng lại, thì đất nước này ai đứng lên?”
Câu nói ấy nghe qua tưởng cứng rắn, nhưng chỉ những ai từng đau mới hiểu, phải cắn chặt lòng đến mức nào mới nói ra được như vậy.
Rồi bà bị bắt. Trong một lần liên lạc, bà rơi vào ổ phục kích. Địch trói bà giữa sân đình, đánh đập, tra khảo suốt nhiều ngày. Chúng hỏi nơi cán bộ trú quân, hỏi đường vận chuyển lương thực, hỏi tên những người trong cơ sở cách mạng.
Bà im lặng.
Mỗi cái roi quất xuống, da thịt rách toạc. Mỗi cú đá giáng vào người, thân thể nhỏ bé ấy lại nghiêng đi. Nhưng đôi mắt bà vẫn nhìn thẳng. Không van xin. Không khuất phục.
Tên chỉ huy tức giận gằn giọng:
“Mày không sợ chết à?”
Bà khẽ nhếch môi, giọng khàn đặc:
“Tôi sợ chứ. Nhưng tôi sợ nước mất hơn.”
Có những câu nói không cần lớn tiếng, vẫn đủ khiến kẻ mạnh phải cúi đầu.
Sau đó, nhờ cơ sở cách mạng tổ chức giải cứu, bà thoát ra được. Nhưng những vết thương trên thân thể theo bà suốt phần đời còn lại. Trái gió trở trời là đau nhức đến mất ngủ. Song bà chưa từng than.
Ngày hòa bình lập lại. Người ta ùa ra đường khóc cười trong cờ đỏ. Những người sống sót ôm lấy nhau. Những người không còn ai thì đứng lặng giữa niềm vui chung mà mắt đỏ hoe. Thái Thị Bôi trở về làng. Con đường đất năm xưa đã phủ cỏ xanh. Những hố bom đầy nước thành ao sen nhỏ. Cây gạo đầu làng vẫn nở đỏ như chưa từng biết chiến tranh là gì. Nhưng mẹ bà đã già đi quá nhiều. Lưng còng xuống. Tóc bạc trắng. Bà quỳ xuống ôm lấy mẹ. Hai mẹ con khóc rất lâu. Đó là lần đầu tiên sau nhiều năm, người phụ nữ thép ấy cho phép mình yếu mềm.
Từ đó, bà lại làm nông dân. Sáng ra đồng cấy lúa, chiều gom rơm, tối vá áo. Ai hỏi chuyện chiến công, bà chỉ cười xua tay:
“Thời ấy ai cũng vậy thôi.”
Nhưng không, không phải ai cũng vậy.
Không phải ai cũng dám lấy tuổi xuân đổi lấy hiểm nguy.
Không phải ai cũng chịu đòn roi mà không phản bội đồng đội.
Không phải ai cũng nuốt nước mắt riêng để giữ việc chung.
Không phải ai cũng trở về sau chiến tranh mà sống khiêm nhường như chưa từng có công lao.
Chính vì thế, bà lớn lao hơn những lời tự nhận của mình.
Bây giờ, những người cùng thời với bà phần lớn đã đi xa. Làng quê năm ấy đã đổi khác. Trẻ con lớn lên giữa điện sáng, đường bê tông và tiếng cười vô tư. Chúng không còn biết mùi khói bom, không biết cái đói cồn cào, không hiểu vì sao có người dám hy sinh tất cả cho hai chữ “Tự do”.
Nhưng mỗi lần nhắc về Thái Thị Bôi, những người già trong làng vẫn nhìn xa xăm rồi nói:
“Có những người sinh ra để làm nên sức mạnh cho cả một thời.”
Bà không để lại của cải lớn. Không để lại danh vọng. Nhưng bà để lại thứ quý hơn tất cả: tấm gương của lòng yêu nước, của đức hy sinh, của sự tử tế giữa những năm tháng tàn khốc nhất.
Có những bông hoa nở trong nắng để người đời ngắm nhìn.
Có những bông hoa nở trong lửa đạn để giữ cho đất nước hồi sinh.
Thái Thị Bôi chính là bông hoa như thế.
Một bông hoa không bao giờ tàn trong ký ức quê hương.



