BÔNG HỒNG THÉP NGÔ THỊ HUỆ - ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN
Nữ Anh hùng Ngô Thị Huệ sinh năm 1942. Cả một thời tuổi trẻ, bà đã tận hiến đời mình cho Tổ quốc, cho Nhân dân.
Anh hùng Ngô Thị Huệ, bí danh Minh Hiệp, sinh ngày 20/12/1942 tại làng Hương Phát, xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang (TP Đà Nẵng) trong gia đình giàu truyền thống cách mạng. Từ những năm 1950, gia đình bà đã là cơ sở nuôi giấu cán bộ cốt cán của phong trào. Sinh ra và lớn lên trong môi trường ấy, bà đã sớm hun đúc tinh thần đấu tranh cách mạng, ý chí căm thù giặc cao độ. Ngày ấy, dù mới hơn 10 tuổi nhưng bà đã rất hăng hái trong những nhiệm vụ được giao như rải truyền đơn, canh gác để báo tin hoạt động của địch cho cơ sở.
Những ngày đầu tiên trong cuộc đời bà đến với phong trào cách mạng ở quê hương mình, cũng là thời điểm mà kẻ thù thực hiện chính sách “tố cộng và diệt cộng” rầm rộ nhất. Nhiều chiến sĩ cách mạng đã sa vào tay giặc, có người bị tra tấn hết sức dã man, có người bị địch hành hạ cho đến chết. Cha bà cũng bị địch bắt, bị bỏ tù và tra tấn đến mù lòa, chúng mới trả tự do.
Năm 1959, địch bắt đầu thực hiện chính sách lập ấp chiến lược để dễ bề thi hành Luật 10/59, bà theo gia đình vào khu dồn dân. Trong thời gian này, được sự chỉ đạo của cấp trên, bà đã tương kế tựu kế điều nghiên tình hình và quy luật đi lại của những đối tượng chức sắc và ác ôn ở địa phương. Nhận chỉ thị của anh Ba Thế - Đội trưởng Đội Công tác Huyện ủy Hòa Vang, bà đã bố trí để những trinh sát của Đội thực hiện nhiệm vụ tiêu diệt các đối tượng ác ôn là ấp trưởng, xã trưởng và liên gia trưởng như tên Toán, tên Lai, tên Lý, làm cho địch hết sức hoang mang. Mặt khác, bà cũng móc nối với những người có tấm lòng với cách mạng ở trong hàng ngũ địch, từ đó phát hiện ra vị trí địch cài mìn, lựu đạn giúp Đội Công tác vào ra ấp chiến lược an toàn tuyệt đối để vận động quần chúng.
Đầu năm 1960, trong một lần nhận nhiệm vụ trèo lên cây Cốc rất cao để treo cờ của Mặt trận, bà bị địch phát hiện và bắt giữ. Tại nhà lao Hiếu Đức, bà bị địch hành hạ, tra tấn dã man nhưng không khai thác được gì, chúng bèn giải bà đến nhà lao Hội An (Quảng Nam) để “nếm trải” những kiểu tra tấn dã man và hiện đại nhất hòng buộc bà phải khai ra những người trong Đội Công tác và các cơ sở cách mạng ở địa phương nhưng chúng đã bất lực trước sự kiên trung của người con gái chưa đến tuổi 20.
Sau hơn 6 tháng bị giam cầm, tra tấn, sức khỏe của bà càng ngày càng sa sút, rồi bà ngã quỵ, bị liệt toàn thân. Thấy vậy, địch lại thả bà ra để chị được tự do trở về quê hương. Về với gia đình, bà được cha và các anh, các chị chăm sóc, các cơ sở của ta đóng góp tiền bạc để chạy chữa thuốc thang để chị chóng khỏe lại…
Từ đội công tác Đà Nẵng, bà chuyển qua làm điệp viên của Ban An ninh Quảng Đà, lấy bí danh Minh Hiệp, vừa trực tiếp vào ra nội thành móc nối, khai thác tin tức; vừa đào tạo mạng lưới điệp viên với hàng chục cơ sở, trong đó có nhiều cơ sở trong hàng ngũ địch. Trước thềm Xuân 1968, chuẩn bị cho Tổng tấn công Mậu Thân, nhiều đồng chí lãnh đạo của Đặc Khu ủy và Ban An ninh Quảng Đà đã vào nội thành Đà Nẵng nắm tình hình, chỉ đạo chiến dịch. Trưởng Ban Võ Bá Huân giao nhiệm vụ cho bà đem tài liệu vào cho đồng chí Nguyễn Cam, Phó Ban An ninh Quảng Đà lúc này trong vai cố vấn cho Trần Đăng Sơn, trùm Quốc dân Đảng tại trụ sở ở số 30 Nguyễn Du.
Kỷ niệm mà đồng chí Huệ không bao giờ quên, đó là trên quãng đường từ căn cứ đến trụ sở 30 Nguyễn Du, khi đi qua đoạn đường Ông Ích Khiêm, bà gặp phải tình huống hết sức bất ngờ khi phát hiện có hai chiến sĩ cách mạng bị địch bắt, trói lại và giải về ty Công an. Đi song song với địch, mặc dù rất xót xa khi phải chứng kiến cảnh đồng đội bị dẫn giải, nhưng bà vẫn cố nén lại cảm xúc như không có chuyện gì xảy ra để khỏi bị nghi ngờ.



