BÔNG HỒNG THÉP TRÊN ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN
Câu chuyện kể về bà Nguyễn Thị Nguyệt Ánh, cô gái quê Hưng Yên lên đường tham gia thanh niên xung phong khi mới 17 tuổi. Từ một nữ thanh niên làm nhiệm vụ xây dựng sân bay dã chiến ở Yên Bái, bà được tuyển chọn, đào tạo để trở thành một trong những nữ lái xe vận tải đặc biệt trên tuyến đường Trường Sơn. Trong những đêm dài, bà cùng đồng đội điều khiển xe qua các cung đường hiểm trở, đưa hàng vào chiến trường và đón thương binh trở về. Dù sợ hiểm nguy, những nữ tài xế trẻ còn lo hơn nếu hàng hóa
Cô gái 17 tuổi rời quê hương
Nguyễn Thị Nguyệt Ánh sinh năm 1948 trong một gia đình nhà giáo đông con ở Hưng Yên. Là người con gái thứ hai, từ nhỏ bà đã quen với việc giúp mẹ làm ruộng và chăm sóc các em khi cha và chị gái phải đi dạy học xa nhà.
Năm 1965, khi chiến tranh phá hoại miền Bắc ngày càng quyết liệt, cô gái 17 tuổi quyết định tham gia lực lượng thanh niên xung phong. Tháng 9 năm ấy, mang theo quyển sổ được cha tặng, bà rời quê lên đường và được biên chế vào Đại đội 9, Tổng đội 59, đóng quân tại công trường 130 ở Yên Bái.
Nhiệm vụ đầu tiên của bà là cùng đồng đội xây dựng nhà ở cho các chuyên gia Trung Quốc đang hỗ trợ Việt Nam xây sân bay dã chiến. Công việc diễn ra giữa lúc khu vực sân bay thường xuyên bị máy bay đánh phá. Những cô gái tuổi đời còn rất trẻ vừa lao động, vừa đào hầm trú ẩn và sẵn sàng khắc phục hậu quả sau mỗi đợt oanh kích.
Cuộc gặp trong đêm văn nghệ
Tại công trường Yên Bái, bà Ánh gặp người lính công binh Trần Công Thắng, sinh năm 1946, quê Hà Nội. Ông vốn là công nhân một nhà máy y cụ, sau đó tình nguyện nhập ngũ và được biên chế vào Trung đoàn Công binh 251, tham gia xây dựng sân bay dã chiến.
Hai người gặp nhau cuối năm 1966 trong một buổi biểu diễn văn nghệ. Bà Ánh cùng hai người bạn muốn vào xem nhưng bị cảnh vệ ngăn lại. Ông Thắng đã đến hỏi chuyện rồi giúp ba cô gái vào trong. Sau buổi biểu diễn, họ trò chuyện và dần trở nên thân thiết.
Những ngày không thể gặp nhau, ông Thắng viết thư gửi sang đơn vị của bà. Ông kể rằng mình đã viết khoảng 40 bức thư. Ban đầu, bà Ánh chưa nhận lời vì chỉ mong hoàn thành nhiệm vụ rồi trở về quê. Tuy nhiên, sự chân thành và kiên trì của người lính trẻ dần khiến bà cảm động.
Trở thành nữ lái xe Trường Sơn
Đầu năm 1968, ông Thắng được điều vào chiến trường. Không lâu sau đó, trước yêu cầu cấp bách về lực lượng vận tải, bà Ánh tiếp tục xung phong tham gia đội nữ lái xe Trường Sơn.
Thời điểm ấy, tuyến chi viện chiến lược bị đánh phá dữ dội trong khi số lượng lái xe nam không đáp ứng đủ yêu cầu. Bộ Tư lệnh Đoàn 559 giao cho Binh trạm 9 và Binh trạm 12 tuyển những nữ thanh niên xung phong trẻ, khỏe và nhanh nhẹn để đào tạo lái xe.
Khoảng 40 cô gái trong độ tuổi từ 18 đến 20 được tập trung học lái xe tại Trường lái 255, nay là Trường Trung cấp Kỹ thuật xe – máy Sơn Tây. Khóa học kéo dài 45 ngày, trong đó các học viên phải học điều khiển phương tiện, bảo dưỡng, sửa chữa những hỏng hóc thông thường và xử lý tình huống trên đường.
Ngày 18 tháng 12 năm 1968, tại khu vực rừng núi xã Hương Phổ, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, Trung đội nữ lái xe mang tên nữ Anh hùng Nguyễn Thị Hạnh chính thức được thành lập. Đây là đơn vị nữ lái xe đặc biệt trên tuyến vận tải Trường Sơn.
Những chuyến xe trong đêm
Bà Ánh và đồng đội được giao vận chuyển lương thực, thuốc men, vũ khí và hàng hóa từ khu vực Vinh qua các tuyến đường 12, 15, 18, 20 và 22 đến phía bắc sông Gianh. Có những chuyến xe phải tiến sâu hơn vào chiến trường hoặc sang địa bàn nước bạn Lào.
Chiều trở về, những chiếc xe không chạy không tải. Các nữ tài xế đón thương binh, bệnh binh và cán bộ từ chiến trường ra miền Bắc để điều trị, học tập hoặc nhận nhiệm vụ mới. Vì vậy, mỗi chuyến xe đều mang trách nhiệm đặc biệt: chiều đi tiếp sức cho chiến trường, chiều về đưa những người bị thương tới nơi an toàn.
Để hạn chế bị phát hiện, các đoàn xe chủ yếu hoạt động từ khoảng 17 giờ hôm trước đến 5 giờ sáng hôm sau. Trước khi xuất phát, các cô gái chặt cành cây, lá rừng phủ lên xe làm vật ngụy trang. Đèn xe không được chiếu sáng bình thường mà phải sử dụng ánh sáng nhỏ đặt dưới gầm để người lái vừa nhìn được đường, vừa giữ bí mật.
Đường Trường Sơn nhiều dốc cao, vực sâu và những đoạn cua gấp. Trong bóng tối, chỉ một chút mất tập trung cũng có thể khiến xe lao khỏi mặt đường. Các nữ tài xế phải vừa giữ vững tay lái, vừa lắng nghe động cơ để kịp thời phát hiện hỏng hóc.
Có đồng đội của bà Bùi Thị Vân phải kê chăn dưới ghế và đặt can phía sau lưng mới đủ chiều cao điều khiển vô lăng. Chi tiết ấy cho thấy nhiều nữ lái xe có vóc dáng nhỏ bé, nhưng vẫn phải làm chủ những chiếc xe vận tải lớn trên các cung đường chiến trường.
Nỗi sợ lớn hơn hiểm nguy
Trên đường vận chuyển, các nữ tài xế thường xuyên gặp pháo sáng, những đợt đánh phá và các đoạn đường vừa bị hư hỏng. Có khi xe phía trước không thể tiếp tục hành trình, những người đi sau vừa phải tìm cách tránh nguy hiểm, vừa nhanh chóng hỗ trợ đồng đội và bảo vệ hàng hóa.
Bà Ánh thừa nhận bản thân cũng biết sợ. Nhưng điều khiến bà lo lắng hơn là hàng tiếp tế không đến được với những chiến sĩ đang chờ ở phía trước. Chính suy nghĩ ấy giúp bà và đồng đội bình tĩnh tiếp tục hành trình qua những cung đường khó khăn.
Sau mỗi chuyến xe, các cô gái còn phải kiểm tra nhiên liệu, lốp, phanh, động cơ và tự sửa chữa những hỏng hóc trong khả năng của mình. Thời gian nghỉ rất ngắn, bởi các chuyến hàng tiếp theo vẫn liên tục được chuẩn bị.
Sáu năm xa cách
Trong khi bà Ánh lái xe trên tuyến Trường Sơn, ông Trần Công Thắng làm nhiệm vụ công binh tại chiến trường Lào. Có lần hầm của đơn vị bị bom làm sập, ông bị thương do sức ép. Khi đồng đội đưa ông tới trạm điều trị, một đợt đánh phá khác xảy ra khiến ông rơi xuống một con suối cạn, nhưng ông vẫn sống sót.
Qua một người lính cùng quê bà Ánh, ông Thắng biết người yêu đã trở thành nữ lái xe Trường Sơn. Từ đó, mỗi khi thấy đoàn xe vận tải đi qua, ông đều hy vọng sẽ gặp bà. Tuy nhiên, trong suốt những năm chiến tranh, hai người không một lần gặp lại trên tuyến đường.
Năm 1973, sau sáu năm xa cách, họ mới có dịp đoàn tụ tại Hà Nội. Dù chiến tranh và thời gian khiến cuộc sống có nhiều thay đổi, cả hai vẫn giữ tình cảm dành cho nhau và sau đó xây dựng gia đình. Ông Thắng tiếp tục trở lại Quảng Trị làm nhiệm vụ; đến năm 1977, bà Ánh vào đơn vị xin cho chồng chuyển ra Hà Nội để gia đình được đoàn tụ.
Những người phụ nữ không bị lãng quên
Đầu năm 1972, Trung đội nữ lái xe Trường Sơn được điều về Trường đào tạo lái xe D255. Các nữ tài xế từng trải qua chiến trường trở thành giáo viên, tham gia huấn luyện khoảng 300 học viên nữ để thay thế một phần lực lượng lái xe nam tiếp tục vào chiến trường.
Năm 1970, đơn vị được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba; nhiều thành viên được trao thưởng vì thành tích phục vụ chiến đấu. Năm 2014, Đại đội nữ lái xe C13 được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.
Sau chiến tranh, các thành viên của đội trở về nhiều địa phương và có thời gian dài mất liên lạc. Khi tìm lại được nhau, họ duy trì gặp mặt vào ngày truyền thống 18 tháng 12, cùng nhắc lại lời của người đội trưởng Phùng Thị Viên: cuộc đời có thể quên họ, nhưng những người đồng đội không được quên nhau



