Bài viết

Bức thư từ chiến tranh gửi đến hòa bình

Từ lời kể của cựu chiến binh và ký ức của người lính đã đi qua chiến tranh, câu chuyện tái hiện nỗi đau lặng thầm của những người anh hùng nằm lại ở Thành cổ Quảng Trị. “Bức thư thiêng” của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh và những ký ức không thể khép lại của người ở lại đã khắc sâu cái giá khốc liệt của chiến tranh, để thế hệ trẻ hôm nay thấu hiểu hơn giá trị của hòa bình và trách nhiệm sống xứng đáng với những hy sinh ấy.

Lào Cai14/01/2026Vũ Anh Thư (Chi đoàn 11A5, Đoàn trường THPT Trần Nhật Duật, xã Yên Bình)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Bức thư từ chiến tranh gửi đến hòa bình

“Người mẹ ấy tìm con giữa tiếng reo dân tộc, người vợ ấy tìm chồng giữa đám đông. Hòa bình đến rồi, sao anh vẫn chưa trở về? “Giữa tiếng cười mình,mẹ rơi nước mắt.” Trích Nỗi đau giữa hòa bình – nhạc phim Mưa đỏ.

Hình ảnh những người anh hùng hy sinh oanh liệt, nằm lại mãi mãi dưới mảnh đất Quảng Trị – nơi mỗi tấc đất là một cuộc đời. Đó luôn là hình ảnh chân thực nhất, cho thấy “bộ mặt” tàn ác, khốc liệt của chiến tranh và cái giá đắt đỏ của hòa bình. Chiến tranh – chỉ vỏn vẹn hai từ đơn giản nhưng lại chứa đựng cả một thời mất mát. Nơi nỗi buồn, nỗi nhớ và cả những khổ đau đan xen với nhau. Là nơi những người mẹ quặn thắt vì mất con, người vợ đau lòng vì mất chồng và cả những người con vĩnh viễn lạc mất cha…

Chắc hẳn, chúng ta ai cũng đã từng nghe, xem và “cảm” chiến tranh qua nhiều lăng kính khác nhau như qua sách vở, qua những bài giảng, hay qua những bộ phim tư liệu. Nhưng để nói thực tế và rõ ràng nhất thì phải nghe chính người trong cuộc kể về cuộc chiến, những cựu chiến binh anh dũng kể lại thời chiến tranh. Từng lời nói, cử chỉ của họ chân thực mà ám ảnh như thể chính họ được quay lại thời chiến tranh – cái thuở chia nhau từng mẩu vụn lương khô.

Tình cờ, sáng hôm ấy, trên hội trường Trường Trung học Phổ thông Trần Nhật Duật, tôi được nghe chính ông Lương Bá Thịnh,(sinh năm 1963) - một cựu chiến binh thông tin, chia sẻ câu chuyện đau thương về anh Lê Văn Huỳnh – người chiến sĩ anh dũng cùng “bức thư thiêng” tại Thành Cổ Quảng Trị. Anh Huỳnh vốn là sinh viên năm tư Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội. Vì đất nước vẫn còn chiến tranh, không yên lòng, anh đã gác lại ước mơ, gác lại việc học và cất đi con chữ, cây bút để cầm súng ra chiến trường. Khi ấy, anh và vợ vừa kết hôn trong sự vội vã và chia ly khi họ mới được bên nhau bảy ngày bảy đêm. Kể từ lần vào Nam định mệnh đó, anh đã vĩnh viễn không trở về, để lại mẹ già, vợ trẻ và bao nhiêu ước mơ, hoài bão đang dang dở cùng anh nằm lại dưới mảnh đất lạnh lẽo.

Chi tiết khiến tôi kinh ngạc và ám ảnh nhất có lẽ là "bức thư thiêng" – bức thư cuối cùng của anh. Anh viết bức thư vào ngày 11 tháng 9 năm 1972. Qua bức thư, anh đã dự đoán chính xác ngày mình “đi tìm bí mật dưới lòng bom” là ngày 2 tháng 1 năm 1973.

Những dòng chữ anh gửi trong thư không có sự đau buồn, bi thảm của cái chết mà anh đã dự đoán trước, chỉ có sự xót xa, lo lắng vì chưa chăm sóc, báo hiếu được cho mẹ, chưa kịp nuông chiều và quan tâm người vợ mới cưới. Song, anh Huỳnh chỉ mong mọi người đừng quá đau buồn mà hãy “gạt nước mắt cho đời trẻ lại”.

Hơn thế, anh còn bình thản chỉ cho mọi người nơi mình sẽ nằm lại cùng với địa chỉ chôn cất ở thị xã Quảng Trị, thôn Thạch Hãn, ở tả ngạn sông Thạch Hãn. Tại đó, có mảnh tôn ghi vội tên của người chiến sĩ anh hùng này. Không chỉ thế, "bức thư thiêng" còn khẳng định chắc nịch rằng cuộc kháng chiến ở Thành Cổ Quảng Trị sẽ thắng lợi.

Từ lời kể được đúc kết bằng ký ức của ông Thịnh và những dòng chữ linh thiêng của anh Huỳnh, tôi đã nhận ra rằng: Tám mươi mốt ngày đêm địa ngục ở Thành Cổ, với con sông máu cùng hàng trăm sinh mạng đã ngã xuống, là nơi mà hy vọng được trở về và đoàn tụ trở thành một điều xa xỉ.

Chúng ta làm sao có thể tưởng tượng được một con người không sợ hãi trước cái chết, dù biết mình sẽ nằm xuống nhưng vẫn chiến đấu, kiên trì đến hơi thở cuối cùng. Điều đó mạnh mẽ, dũng cảm và vĩ đại đến nhường nào.

Cũng chính tại nơi đây, những chiến sĩ quả cảm, vì nước quên thân đã luôn phải cảnh giác với ba trăm hai mươi tám nghìn tấn bom có thể dội xuống bất cứ lúc nào, ở bất kỳ đâu. Đó là những đêm không dám ngủ khi địch còn thức, là tiếng bom rú vang trời, là tâm trí luôn căng như dây đàn. Sống trong tình cảnh trên đầu là bom đạn, dưới chân là thi thể, trước mắt là thù địch, nước sông là máu, không khí đặc quánh mùi hôi tanh. Thế nhưng, các chiến sĩ của chúng ta vẫn dũng cảm, quật cường, mạnh mẽ và tỉnh táo – đó mới là điều phi thường.

Sau khi tôi nghe câu chuyện của người lính tiên tri, những dòng cảm xúc trong tôi vẫn chưa nguôi ngoai. Tôi đem câu chuyện linh thiêng ấy kể cho ông của tôi – ông Nguyễn Thanh Tiến (sinh năm 1947) một người lính hỏa lực đã sống và hoạt động ở chiến trường B1-C4, Quảng Nam – Đà Nẵng. Tôi cứ ngỡ một người lính “sắt thép”, dày dặn đã đi qua bao nhiêu thăng trầm của cuộc sống sẽ bình thản, nhưng ông chỉ lặng lẽ ngồi nhìn xa xăm, ánh mắt vô định như vẫn còn mắc lại ở những năm tháng chiến tranh.

Sau một hồi lặng thinh, ông kể với tôi rất nhiều chuyện, từ những gian khó ở chiến trường, những cuộc kháng chiến ông tham gia, đến những người đồng đội mà ông không kịp nhớ mặt, biết tên. Nhưng có một người mà ông nhắc đi nhắc lại trong lời kể của mình – người đồng đội không nhớ họ, chỉ nhớ tên. Và người đồng đội tên là Mần ấy là người duy nhất ông tôi nhớ tên trong suốt thời chinh chiến.

Ông kể, vào một đêm khuya, khi đang đánh địch, ông thấy người đồng đội bị một mảnh pháo xé toạc khoang ngực. Giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết, không kịp suy nghĩ nhiều, ông lấy miếng băng độn thêm mảnh áo mưa để cầm cự hơi thở yếu ớt của người bạn chưa từng quen mặt. Đó là lần đầu tiên ông tôi và ông Mần gặp nhau.

Ông kể, vào một đêm khuya, khi đang đánh địch, ông thấy người đồng đội bị một mảnh pháo xé toạc khoang ngực. Giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết, không kịp suy nghĩ nhiều, ông lấy miếng băng độn thêm mảnh áo mưa để cầm cự hơi thở yếu ớt của người bạn chưa từng quen mặt. Đó là lần đầu tiên ông tôi và ông Mần gặp nhau.

Và với ông, cũng như những người chiến sĩ khác, sống sót trở về đã là điều may mắn. Nhưng trong tâm trí, linh hồn của họ luôn tồn tại một khoảng trống, một mảnh ký ức ám lấy suốt cả đời, như thể chiến tranh vẫn chưa từng khép lại với những người đã trở về.

Từ những người đã ra đi hòa làm một với núi rừng Tổ quốc, đến những người ở lại kể về những người ra đi, rồi đến thế hệ trẻ như tôi – tất cả như được nối liền theo dòng chảy của thời gian. Tôi hiểu rằng chiến tranh là điều không ai mong muốn, nhưng cũng chính từ đó, ta mới thấm thía cái giá đắt đỏ của hòa bình hôm nay. Vậy ta phải sống như thế nào để không phụ công người đã ra đi, không phụ lòng những người ở lại? Có lẽ, chính những lời được dặn dò, những ký ức được kể lại, những suy nghĩ và trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay là thông điệp mà những bức thư từ chiến tranh gửi đến những ngày hòa bình.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn