Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

BỨC TRANH PHẢN DIỆN

Sinh năm: 12-1928 Quê quán: Liên Phương, Tiên Lữ, Hưng Yên Thường trú: P.105. G6. Thanh Xuân Nam, Thanh Xuân, Hà Nội Điện thoại: 043. 8544879 Thiếu tá, nguyên Trưởng phòng Tác huấn Cục TMCB. Hiệu trưởng trường Quân chinh BTL 559 Nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Đường lối Quân sự, Học viện Quốc phòng

Lai Châu12/02/2026Ban Biên tập tổng hợp4 lượt xem0 lượt chia sẻ
Trong chuyến đi nghiên cứu thủ đoạn đánh phá của địch trên tuyến đường Trường Sơn cuối năm 1969, tôi cùng hai đồng chí cán bộ Ban Nghiên cứu Bộ Tư lệnh Công Binh Lê Văn Trung, Hoàng Công Quang có dừng lại trọng điểm Seng Phan một tuần lễ để theo dõi hoạt động của địch. Chúng đánh phá rất ác liệt và xảo quyệt với đủ loại bom nổ ngay, nổ chậm, từ trường, bom bi, mìn nổ chậm...


Trọng điểm Seng Phan nằm trên đường 128 cách đèo Mụ Giạ hơn 30 ki lô mét về phía Nam do Tiểu đoàn 2 Công binh1 (Tiểu đoàn 2 về sau được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang) thuộc Binh trạm 12 đảm nhiệm.


Chúng tôi đến sở chỉ huy tiền phương của Tiểu đoàn cùng Tiểu đoàn trưởng Cao Xuân Thung, sở chỉ huy tiền phương được bố trí trong hang đá tương đối rộng, chỉ cách mặt đường vài mét. Tuy ngày đêm bị đinh tai, nhức óc vì tiếng bom mìn, nhưng lại rất tiện cho việc chỉ huy, lực lượng cơ động tới nơi cần ứng cứu cũng rất nhanh chóng.


Khi im ắng tiếng bom mìn, xe chạy thông suốt thì lính ta tán như khướu, mấy tay lái xe phóng từ1 (Xe phát ra từ trường để kích bom từ trường nổ; bom từ trường là một loại bom nổ chậm rất ác hiểm của địch, sau khi được ném xuống thì nằm chờ bao giờ có xe, hay sắt thép đi tới gần mới nổ) trực tại đó cũng góp chuyện khá rôm rả.


Họ kháo nhau cánh lái xe vận tải mà có ra công tác ngoài hậu phương thì không mấy tay là không tranh thủ "vô nguyên tắc" dăm hôm, rẽ về thăm nhà, bởi một lẽ rất đời thường “vợ ở mô là Thủ đô ở đó”, có chuyện gì sẽ tính sau. Còn cứ vào đến đơn vị mà hai tay ôm lấy cái “vô lăng” vượt qua trọng điểm, nhất là lại vào đợt vận chuyển hàng đặc biệt cho chiến trường thì mọi tội "tụt”, “tạt” đều được xóa sạch.


Bỗng có tiếng nói phát ra từ góc hang như phản đối:

- Thế mà có lần chở hàng đặc biệt lại bị trực trạm “barie” mắng cho mất mặt đấy!

Rồi vẫn tiếng anh chàng đó, đằng hắng giọng tiếu lâm, kể:

“Như thường lệ, xe chở hàng đến trạm barie thì dừng lại để kiểm tra. Trực barie hỏi:

- Chở hàng gì?

Lái xe thản nhiên trả lời:

- Chở con c...!

Lái xe nói tếu cũng là chuyện thường tình. Trực barie tuy rất bực, nhưng cũng cố dằn giọng hỏi lại:

“Thế này thì quá lắm!”, trực barie quát:

- Đừng có mà nhảm nhí! Làm việc cho nghiêm túc! Chiến trường chứ không phải trò đùa ở nhà đâu!

Lái xe vẫn bình thản nói như đinh đóng cột:

- Đúng là xe chở con c...mà! C...của ông Đ.Đ.T vãi cùng đường, nhặt được đầy xe đây này!"

Nghe chuyện lính ta cười phá lên tưởng có thể sập hầm. Mẩu chuyện này cánh lái xe thích nhắc tới như một giai thoại văn học dân gian. Tôi cũng được nghe đôi ba lần, nhưng lần này có hư cấu thành chuyện có đầu có cuối hẳn hoi. Tôi cũng cười theo, gật gù hưởng ứng, nhưng tâm trí lại hồi tưởng về một câu chuyện xảy ra cách đây hai chục năm về trước...


Đầu năm 1950, tôi được lệnh đưa Trung đội 3 của Đại đội Công binh 250, do đồng chí Võ Bảo làm Trung đội trưởng, lên Cao Bằng phối thuộc với Cục Vận tải chuẩn bị cho chiến dịch Biên giới.

Lần đầu tiên được đi chiến dịch, ngày ấy thường gọi cho ra vẻ bí mật là “đi Xê Zét”, lại được đến cái vùng nổi tiếng “gạo trắng nước trong”, “Noọng slao Cao Bằng đây lai"1 (Em gái Cao Bằng đẹp lắm!) nên anh em rất phấn khởi. Có đồng chí đang ốm cũng không chịu ở lại, nhất định đòi đi.


Tới Quảng Uyên, tôi gặp anh G, Cục phó Cục Vận tải, nhận nhiệm vụ. Công việc tiến triển sau đó khá thuận lợi.

Một hôm, tôi đến cơ quan để đề nghị giải quyết một số việc, nhưng anh G đi vắng. Tôi định ra về, nhưng lại thấy anh N ở đó. Anh N trước đó là Cục phó Giao thông Công binh, khi ấy cũng là Cục phó Vận tải, tôi mừng quá chạy vào nói chuyện.


Ôi! Thật là định mệnh! Tôi cứ đứng đó nói chuyện với anh N một cách thích thú mà không lưu ý đến thái độ dè dặt của anh, khác hẳn với tác phong giản dị, gần gũi anh em trước đây.

Mải nói chuyện, tôi không chú ý tới một người đứng tuổi, mặc quần bà ba nâu, áo sơ mi trắng đài tay, ngồi xổm trên ghế tựa. Người đó làm như không theo dõi cuộc chuyện trò. Còn tôi cứ tưởng đại loại đó là khách đến cơ quan làm việc. Và đấy chính là điều không may cho tôi.


Khi tôi xin phép anh N ra về, thì lập tức người đó nhướn người lên hỏi anh N:

- Anh này có phải là Đại đội trưởng Công binh đến phối thuộc cho ta không?

- Vâng!

Anh N vừa dứt lời thì người đó nhìn tôi quát:

- Tại sao anh không đến báo cáo tôi!

Tôi ngớ người ra và phản xạ một cách tự nhiên:

- Tôi đã báo cáo đồng chí G Cục phó rồi!

Tức khắc người đó thả chân xuống đất, tay vung lên, miệng quát:

- Tôi là “sếp” của anh mả anh không báo cáo tôi à?

Quả thực đến lúc đó tôi vẫn chưa biết người đó là ai mà lại xưng “chef ” với mình hách dịch như vậy. Nếu anh N cho mình biết từ đầu thì đâu đến nông nỗi này! Tôi thấy ức quá, không suy nghĩ gì mà nói ngay:

- Tôi chưa biết đồng chí là ai, mà chỉ biết đã báo cáo đồng chí G Cục phó rồi!

Đúng là tôi đã rót thêm một gáo đầu vào lửa! Người ấy chồm lên:

- À!!! Anh không báo cáo tôi à? Tôi bỏ tù anh bây giờ! Anh G, anh N cũng dưới quyền tôi!

Tôi biết đã chạm trán một cấp “côi, hắc xì dầu" mà còn dại dột chọc thêm vào tổ ong bầu.

Các bạn thử hình dung xem bộ mặt của tôi mới đáng thương làm sao! Tôi thấy sững sờ, ngớ ngẩn cả người và hoảng hồn thực sự, liền cầu cứu anh N:

- Đề nghị anh nói hộ, thực tình tôi không biết đồng chí ấy là thượng cấp.

Anh N cũng toát mồ hôi, nói dè dặt:

- Báo cáo anh, anh Mai Sơn mới lên đây, không biết anh là Cục trưởng.

Nói xong, anh N cũng rút êm re, để lại một mình tôi trước một đối tượng đầy quyền năng, nét mặt sát khí đằng đằng...

Trấn tinh lại, tôi biết mình phải làm gì trong tình huống này. Tôi liền đứng nghiêm báo cáo rất đúng tác phong, vì tôi mới học qua lớp bổ túc sĩ quan bộ binh khóa "Rèn cán, chinh quân” mà!

Báo cáo đồng chí! Tôi có khuyết điểm là không biết đồng chí là Cục trưởng. Bây giờ tôi xin phép được báo cáo công việc.

Nói xong tôi ngồi xuống ghế trước mặt đồng chí đó và báo cáo rất đầy đủ.

Nghe đến đâu, đồng chí bảo thư ký ghi cách giải quyết. Có thể nói, mọi yêu cầu đều được thỏa mãn. Lẽ ra thì phải mừng mới đúng, nhưng tôi vừa bị cú "sốc" nên vẫn ấm ức. Tôi nghĩ nhất định phải có ý kiến phê bình ngay sau đây.

Làm việc xong tôi nói:

- Tôi xin phép có ý kiến!

- Được! Anh cứ nói! - Câu trả lời đã trở lại bình thường.

Tôi đổi cách xưng hô cho nhẹ nhàng:

- Tôi thấy anh quá nóng và cảm thấy không thể làm việc ở đây được!

Nói xong, tôi chuẩn bị chịu trận lôi đình giáng xuống đầu mình. Nhưng đồng chí ây lại từ tốn:

- Ấy! Anh đừng nói thế! Anh nói là không thể làm việc được ở đây là không nên. Rồi anh xem, anh làm việc với tôi anh sẽ hiểu. Tôi như người anh anh. Về mọi phương diện, au point đe vue de toute forme (đồng chí ấy thêm cả một đoạn tiếng Pháp), tôi đều là anh anh. Về tuổi, tôi là anh anh. Về quân đội, tôi là anh anh. Về đoàn thể, tôi là anh anh...


Thì ra một con người dù nóng nảy đến đâu cũng không phải là quá khó phê bình, nhất là những lời phê bình thẳng thắn, không có tâm địa... Chỉ cần mọi người dám phê bình, nhưng đừng có bao giờ phê bình xu nịnh để vụ lợi, bởi vì như thế còn tai hại hơn là không phê bình.


Ngừng một lát, đồng chí ây hỏi tôi:

- Anh có ở đoàn thể không?

Khi ấy tôi chưa phải là đảng viên, nên cũng trả lời rất tự nhiên:

- Tôi không ở đoàn thể!

Nét mặt ngạc nhiên thực sự, đồng chí bảo:

- À, thế thì anh không hiểu rồi!

Tôi cũng chẳng hiểu đồng chí ấy bảo mình không hiểu cái gì, nhưng chưa thỏa mãn với cách giải thích trên nên tôi vẫn nói tiếp:

- Tôi không biết anh là cấp trên, làm sao tôi đến báo cáo được. Nguyên tắc quân đội, muốn đến gặp cấp trên, tôi phải báo cáo trước xem có được vào "yết kiến"không rồi mới dám đến, làm sao đám tự tiện đến!


Tôi dùng từ “yết kiến” một cách ngẫu hứng có vẻ “tuồng”, sau này nghĩ lại cứ tự buồn cười.

Vẻ bực bội thoáng trên nét mặt, đồng chí ấy nói:

- Tôi không cần anh phải báo cáo trước. Anh cứ đến đây. Ai hỏi, anh bảo: “Tôi làm việc với anh T.” rồi anh vào. Tôi cũng không cần đứng nghiêm báo cáo. Tôi đã nói với anh Văn là tôi không cần đứng nghiêm cúi đầu 15 độ (kiểu chào không đội mũ lúc đó). Đấy anh xem, anh có bao nhiêu việc cần giải quyết mà anh lại không báo cáo với tôi thì có thằng nào giải quyết cho anh không?

- Tôi không còn hiểu tâm trạng mình lúc đó ra sao, mà thấy nên rút lui là êm ấm nhất. Sau này nhớ lại, tôi cảm thấy cách phê bình của mình có chỗ nào chưa ổn chăng?

Chân bước đi mà lòng buồn rười rượi. Ra đến cổng tôi gặp một người trạc tuổi ba mươi, mặc bộ quân phục bạc màu, đầu đội mũ lá, đứng lại hỏi chuyện tôi rất thân thiện như quen biết từ lâu. Tôi ngớ người ra, người đó nói như thông cảm:

- Anh vừa ở chỗ anh Đ.T ra đấy thôi!

Chắc người này đã từng nếm trải những sự việc tương tự, nên muốn an ủi tôi như một người cùng hội cùng thuyền.

Bỗng có tiếng gọi giật trong nhà:

- Giám mã! (chức danh chiến sĩ giữ ngựa thời đó)

Người ấy lật đật chạy vào, đứng nghiêm giơ tay chào, miệng lắp bắp:

- Báo... báo cáo!

Một tiếng quát cắt ngang:

- Báo cáo, báo cáo cái gì, ngựa nó đang cắn nhau kia kìa!

Đầu tháng 9 năm 1950, Bộ Quốc phòng điều chúng tôi trả về Cục Công binh và tham gia chiến dịch Giải phóng Biên giới trong đội hình của Tiểu đoàn 333.

Chuyện không lấy gì làm to tát trên đây, không hiểu sao cứ hằn mãi trong ký ức tôi, bám riết lấy tôi, bao năm qua mà tôi vẫn nhớ như in. Tôi luôn lấy đó để tự răn mình theo cái triết lý "Đừng làm cho ai điều gì mà mình không muốn người khác gây ra cho mình".


Khi trở về Cục Công binh, tôi được giao nhiệm vụ làm Đại đội trưởng Đại đội 270. Đại đội 270 được thành lập trong đêm mở màn đánh Đông Khê tại một địa điểm cách cầu phao Phục Hòa vài ki lô mét về phía Đông Khê.


Chiến dịch biên giới kết thúc thắng lợi, chúng tôi từ phía đông đường số 4 được lệnh qua đèo Bố Bạch để sang đảm bảo việc chuyển quân trên đường số 4. Đại đội vượt đèo trong một đêm tối trời, mưa dầm dề, dốc trơn như mỡ, lại lổn nhổn những mỏm đá tai mèo cạnh sắc như sao.


Xuống tới chân đèo, đêm đã khuya, anh em đều đói vì hành quân từ chiều. Tôi cho nấu cơm, nhưng cậu cấp dưỡng mang nồi xoong còn chưa tới nơi. Tôi bỏ ba lô, cầm đèn pin, quay ngược lên đèo để tìm. Qua ánh đèn pin, tôi thấy đồng chí cấp dưỡng, trên vai hai sọt đầy dụng cụ nấu ăn, đang dò từng bước. Thấy tôi, đồng chí ấy hoảng sợ thật sự, miệng lắp bắp:

- Đường trơn, trời tối quá anh ạ!

Tôi nhẹ nhàng bảo:

- Mình lên soi đường cho cậu đi đây! Cứ từ từ mà xuống!

Nhoẻn miệng cười, đồng chí ấy bước từng bước chắc nịch. Đến chỗ dốc dường như dựng đứng, không có một cành cây nào để bấu víu, đi người không cũng khó. Chưa kịp bảo cứ thả quang sọt, dụng cụ xuống trước, rồi người lần xuống sau, thì đồng chí ấy đã ngồi bệt xuống đất, nói to: “Để em tụt xuống!” thế là cả người và gồng gánh trôi tuột xuống. Tôi chỉ kịp kêu “Thủng đít mất thôi!” rồi cũng lao nhanh xuống.


Tới nơi, đồng chí ấy cũng đứng đậy an toàn, nét mặt hồn nhiên và tươi rói, hai tay vẫn giữ chặt đôi quang. Bất ngờ thấy một động tác đẹp như làm xiếc, tôi thật thích thú, nhưng vẫn trách yêu: “Cậu liều quá!”. Còn đồng chí ấy thì nhìn tôi miệng toe toét cười. Đúng là “cùng nhau trông mặt cả cười” rồi tiếp tục đi xuống chân đèo.


Mấy chục năm trôi qua... tôi lục lọi trong ký ức mà không sao nhớ ra tên đồng chí cáp dưỡng ấy. Nhưng không bao giờ tôi quên được hình ảnh người chiến sĩ trẻ măng, người thấp đậm, mặt bầu bầu, đầu húi “cua”, chân đi phục phịch, trên vai gánh một đôi sọt to đùng, xếp đầy xoong nồi cùng chảo, đang lò dò bước lên lưng đèo Bố Bạch năm xưa... Bởi đó là bài tập vỡ lòng về tình thương yêu chiến sỹ trong cuộc đời binh nghiệp của tôi.


Thế rồi bao sự việc diễn ra trên từng nẻo đường chiến dịch, nào mở đường, nào bắc cầu, nào xây đựng trận địa... cho đến chống phá các loại bom mìn hiện đại, ác liệt, luôn luôn đổi kiểu của địch... Từ những việc ây, các chiến sỹ Công binh đã tạo ra biết bao chuyện thần kỳ... đã như một sức mạnh vô hình cứ nâng cao dần trong tôi lòng mến phục và tình thương yêu đồng đội.


Cũng trên trọng điểm Seng Phan này, tôi đã sống những giây phút hồi hộp, lo âu, căng thẳng cùng anh em và được chứng kiến những hành động thật bình dị nhưng cũng thật anh hùng trong chiến đấu, khắc phục bom mìn, giành lại sức sống cho con đường huyết mạch này. Trước khi vào trận, họ vừa mặc áo giáp chống mảnh đạn, vừa vui đùa trêu chọc nhau. Trong số này, chỉ ít phút nữa thôi, ai trở về nguyên lành, ai trở về với thương tích, ai vĩnh viễn không trở về! Họ ý thức được điều đó mà cứ thản nhiên đón nhận, như nó vẫn diễn ra hàng ngày. Điều đó lại càng tiếp thêm trí lực cho sự chỉ huy bình tĩnh, gan dạ của Tiểu đoàn trưởng Cao Xuân Thung, đang còn mang trên người những vết thương chưa lành.


Bằng những công việc thường nhật trên trọng điểm, tưởng như đơn điệu nhưng rất khẩn trương, căng thẳng và hiểm nguy, những chiến sỹ và cán bộ binh thường đó đã dạy cho tôi hiểu thực sự: thế nào là “coi cái chết nhẹ tựa lông hồng”, chứ không còn là một câu sáo rỗng trong tiểu thuyết.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
BỨC TRANH PHẢN DIỆN | Câu chuyện thời hoa lửa