Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Bùi Đình Chiến

Lâm Đồng28/05/2026CPK49B (Trường Đại học Đà Lạt)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ở một góc nhỏ yên bình của xóm 3, xã Khánh Thiện, tỉnh Ninh Bình, có một người lính già đã bước qua tuổi 79 đang sống một cuộc đời vô cùng giản dị. Ngày ngày, ông vẫn miệt mài với công tác cựu chiến binh và phong trào thanh niên xung phong của xã. Dáng người nhỏ nhắn, giọng nói trầm ấm và nụ cười hiền hậu của ông dường như không hề mang dấu vết của một thời đạn bom khói lửa. Thế nhưng, ẩn sâu trong đôi mắt ấy lại là cả một miền ký ức hào hùng về những năm tháng tuổi trẻ sôi nổi, khi ông và các đồng đội đã dâng hiến trọn vẹn thanh xuân cho độc lập dân tộc. Ông là Bùi Đình Chiến – một chứng nhân lịch sử, một nốt nhạc kiên trung trong bản trường ca "Những câu chuyện thời hoa lửa".

Năm 1965, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn ác liệt nhất, tiếng gọi của Tổ quốc vang dội khắp miền Bắc, thôi thúc chàng trai trẻ Bùi Đình Chiến lên đường phóng tầm mắt về hướng tiền tuyến. Thế nhưng, thể hình nhỏ nhắn lúc bấy giờ suýt chút nữa đã khép lại ước mơ ra trận của ông. Lúc bước lên bàn cân nghĩa vụ quân sự, ông chỉ nặng vỏn vẹn 39 cân và lập tức bị từ chối. Không nản lòng, con đường phụng sự cách mạng lại mở ra với ông theo một cách đặc biệt khác. Nhờ sự vận động và giới thiệu của Bí thư Đảng ủy xã, ông chính thức gia nhập "Lớp Anh Trỗi 1" thuộc Đội Thanh niên xung phong (TNXP) đặc biệt mang phiên hiệu K53 – đơn vị quy tụ những thanh niên ưu tú được Trung ương Đoàn cử thẳng vào chiến trường miền Nam.

Sau hai tháng huấn luyện cấp tốc, ngày 16/8/1965, ông Chiến cùng hơn 300 đồng đội bước vào cuộc hành quân bộ lịch sử tiến vào Nam. Hành trình kéo dài ròng rã suốt gần hai tháng trời xuyên qua đại ngàn, không xe cơ giới, không những con đường bằng phẳng. Để tránh bom đạn đánh phá điên cuồng của kẻ thù, đoàn quân phải thực hiện phương châm "đêm đi ngày nghỉ", lấy bóng đêm Trường Sơn làm bạn đồng hành và che chở cho những bước chân không mỏi. Những tọa độ lửa hay bị địch đánh phá ác liệt như các bến phà ở Thanh Hóa, Quảng Bình đã hằn sâu vào tâm khảm của người chiến sĩ trẻ năm ấy.

Vượt qua sông Bến Hải để vào địa phận Quảng Trị, ông Chiến và đồng đội được biên chế vào phục vụ trên tuyến đường dây 559 huyền thoại. Nhiệm vụ của họ vô cùng gian khổ và hiểm nguy: vừa làm giao liên dẫn đường, vừa cõng trên lưng những hòm đạn nặng trịch, những bao gạo, quả đạn B40 chi viện cho mặt trận; lúc trở ra lại gánh trọng trách gùi cáng thương binh về tuyến sau. Con đường ấy đã thấm đẫm biết bao máu, mồ hôi và nước mắt. Ký ức đau thương nhất cuộc đời ông chính là lần vượt sông Thạch Hãn gặp lũ dữ, sợi dây thừng căng ngang bị đứt, dòng nước cuồn cuộn đã cuốn trôi người đồng đội tên Hưởng khi anh chưa kịp bước vào một trận đánh chính thức nào.

Năm 1967, trước sự khốc liệt của chiến trường, đơn vị TNXP của ông được bổ sung thẳng vào lực lượng Quân giải phóng thuộc Trung đoàn 6, Quân khu Trị Thiên (Trung đoàn Phú Xuân Anh hùng). Ông đã trực tiếp tham gia chiến dịch Mậu Thân năm 1968 suốt 26 ngày đêm bám trụ tại Huế. Cuộc sống quân ngũ là chuỗi ngày đối mặt với thiếu thốn, bệnh tật, ghẻ lở, hắc lào và rận chấy đầy thân nhưng tinh thần thép của họ chưa bao giờ nao núng.

Bản thân ông Chiến cũng nhiều lần cận kề với cửa tử. Ông là một trong những người đầu tiên của đơn vị bị sốt rét ác tính quật ngã khi đang cố cõng hai thùng đạn B40 nặng hơn 30kg vượt núi. Ông ngất đi suốt 3 ngày liền, may mắn được tiểu đội trưởng và đồng đội thay nhau cáng vượt qua những đỉnh núi rét buốt xuống hạ tuyến cấp cứu kịp thời. Đến năm 1972, khi làm liên lạc cho trung đội trưởng hậu cần, một trận bom B-52 đã đánh sập căn hầm trú ẩn, khiến một thanh gỗ lớn đập thẳng vào đầu ông gây chấn thương nặng. Thế nhưng ông vẫn nén đau, kiên quyết bám trụ mặt trận để chiến đấu cùng anh em chứ không chịu lùi về tuyến sau.

Năm 1973, sau nhiều năm biền biệt xa nhà, ông Chiến được về phép thăm gia đình. Chiều lòng người mẹ già đang mòn mỏi khóc giục con cưới vợ, ông kết hôn chóng vánh rồi nhanh chóng khoác balo trở lại chiến trường chỉ sau 12 ngày hạnh phúc ngắn ngủi. Đó cũng là lần cuối cùng ông được nhìn thấy mẹ, bởi đến năm 1974, người mẹ kính yêu của ông đã vĩnh viễn qua đời khi con trai vẫn đang ở nơi tiền tuyến lửa đạn.

Năm 1976, ông Bùi Đình Chiến xuất ngũ trở về quê hương với hành trang là hàng chục tấm huân, huy chương cao quý, trong đó có Huân chương Kháng chiến hạng Ba do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước trao tặng. Chiến tranh lùi xa, nhưng tinh thần người lính Cụ Hồ trong ông thì vẹn nguyên. Không cho phép mình ngơi nghỉ, ông tiếp tục miệt mài cống hiến cho cộng đồng: làm Bí thư chi bộ kiêm xóm trưởng hơn 10 năm, tham gia Ban Chấp hành Hội Cựu chiến binh, và hiện tại là Chủ tịch Hội Cựu TNXP của xã. Khi được hỏi tại sao tuổi đã cao mà vẫn thích "vác tù và hàng tổng", ông chỉ cười hiền hậu: "Tôi ăn cơm Nhà nước từ năm 18 tuổi, đến giờ là bệnh binh, vẫn là ăn gạo của Nhà nước. Không vác tù và hàng tổng thì làm cái gì?".

Câu nói mộc mạc nhưng chứa đựng một triết lý sống sâu sắc của ông Bùi Đình Chiến chính là biểu tượng cho tinh thần phụng sự không bao giờ tắt của một thế hệ vàng. Đối với những người lính bước ra từ thời hoa lửa, phục vụ nhân dân và quê hương không phải là gánh nặng, mà là một niềm vinh dự, là cách để trân trọng và trả ơn mảnh đất đại ngàn đã che chở cho họ qua bom đạn.Cuộc đời của ông là một bản trường ca bất tử về lòng yêu nước và sự hy sinh thầm lặng. Đề án mong muốn gửi gắm đến thế hệ trẻ hôm nay bài học vô giá: Hãy soi mình vào ý chí của những người đi trước, trân trọng giá trị của hòa bình, và luôn giữ vững tinh thần trách nhiệm, sẵn sàng cống hiến sức trẻ để xây dựng quê hương, đất nước ngày một giàu đẹp hơn.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn