Cựu chiến binh

Bùi Đình Chiến

Một góc nhỏ yên bình của xóm 3, xã Khánh Thiện, tỉnh Ninh Bình, ông Bùi Đình Chiến, 79 tuổi, sống một cuộc đời giản dị, ngày ngày miệt mài với công tác cựu chiến binh, hội thanh niên xung phong của xã. Dáng người nhỏ nhắn, giọng nói trầm ấm và nụ cười hiền hậu của ông Chiến dường như không hề mang dấu vết của một thời đạn bom khói lửa. Tuy nhiên, ẩn sâu trong đôi mắt ông là cả một miền ký ức hào hùng về những năm tháng tuổi trẻ sôi nổi, khi ông và các đồng đội đã dâng hiến thanh xuân cho đất nướ

Lâm Đồng31/03/2026Hồng Tiên (Đoàn trường mầm non Anh Đào - xã Krông Nô)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

1. Truyện: Chuyến hành quân lịch sử

Một góc nhỏ yên bình của xóm 3, xã Khánh Thiện, tỉnh Ninh Bình, ông Bùi Đình Chiến, 79 tuổi, sống một cuộc đời giản dị, ngày ngày miệt mài với công tác cựu chiến binh, hội thanh niên xung phong của xã.

Dáng người nhỏ nhắn, giọng nói trầm ấm và nụ cười hiền hậu của ông Chiến dường như không hề mang dấu vết của một thời đạn bom khói lửa. Tuy nhiên, ẩn sâu trong đôi mắt ông là cả một miền ký ức hào hùng về những năm tháng tuổi trẻ sôi nổi, khi ông và các đồng đội đã dâng hiến thanh xuân cho đất nước.

Ông Chiến là một trong những thành viên của "Lớp Anh Trỗi 1", Đội Thanh niên xung phong (TNXP) đặc biệt đầu tiên mang tên K53, được T.Ư Đoàn cử thẳng vào chiến trường miền Nam năm 1965.

Cuộc hành quân bộ ròng rã gần 2 tháng trời

Năm 1965, khi cuộc kháng chiến của quân và dân ta bước vào giai đoạn ác liệt nhất, tiếng gọi của Tổ quốc vang dội khắp các làng quê miền Bắc. Chàng trai trẻ Bùi Đình Chiến, cũng như bao thanh niên cùng thế hệ, mang trong mình nhiệt huyết sục sôi, mong muốn được cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Tuy nhiên, một rào cản nhỏ suýt nữa đã khiến ước mơ của ông phải dang dở. "Khám đi bộ đội không được, vì tôi chỉ nặng có 39 cân thôi. Họ đuổi xuống khỏi bàn cân luôn", ông cười nhớ lại.

Thế nhưng, con đường đến với cách mạng của ông lại mở ra theo một cách khác, đặc biệt hơn. Chính Bí thư Đảng ủy xã đã đến tận nhà vận động, giới thiệu ông vào một đơn vị mới thành lập: Đội TNXP đặc biệt, quy tụ những thanh niên ưu tú, có lý lịch trong sạch và tinh thần giác ngộ cao. Thế là ông được tham gia "Lớp Anh Trỗi 1". Sau 2 tháng huấn luyện cấp tốc tại T.Ư Đoàn, ngày 16.8.1965, ông Chiến cùng hơn 300 đồng đội trong tiểu đoàn chính thức bước vào cuộc hành quân lịch sử tiến vào Nam.

Hành trình ấy không có xe cơ giới, không có những con đường bằng phẳng. Đó là một cuộc trường chinh đi bộ ròng rã gần 2 tháng trời. Để tránh những trận bom dữ dội của địch, đoàn quân thực hiện phương châm "đêm đi ngày nghỉ". Bóng đêm của núi rừng Trường Sơn trở thành người bạn đồng hành, che chở cho những bước chân không mỏi của họ. "Đi đâu, qua địa bàn nào cũng không biết, chỉ nhớ những điểm nó hay đánh phá như mấy cái bến phà ở Thanh Hóa, ở Quảng Bình thôi", ông hồi tưởng.

Máu, mồ hôi và nước mắt

Vượt sông Bến Hải, đến địa phận Quảng Trị, ông Chiến và đồng đội được biên chế vào phục vụ trên đường dây 559 huyền thoại - đường mòn Hồ Chí Minh. Nhiệm vụ của họ rất khó khăn và nguy hiểm: vừa làm giao liên dẫn đường, vừa vận chuyển hàng hóa cho chiến trường. Họ cõng trên lưng những hòm đạn nặng trịch, những bao gạo, và cả những quả đạn B40. Lúc trở ra, những đôi vai ấy lại gánh trọng trách thiêng liêng hơn: cáng đồng đội bị thương từ mặt trận về tuyến sau.

Con đường họ đã đi không chỉ có dấu chân người mà còn thấm đẫm máu, mồ hôi và nước mắt. Một trong những ký ức đau thương nhất mà ông Chiến không bao giờ quên là lần vượt sông Thạch Hãn. Nước lũ từ thượng nguồn đổ về cuồn cuộn, dữ dội. Họ phải căng một sợi dây thừng và lần lượt bám vào để bơi qua sông. Trong một chuyến đi định mệnh, sợi dây bị đứt, và người đồng đội tên Hưởng bị dòng nước lũ cuốn trôi. "Đã hy sinh luôn. Chưa hề đánh nhau, chưa gì hết", ông Chiến nghẹn ngào.

Năm 1967, trước tình hình chiến trường ngày càng khốc liệt và sự thiếu hụt quân số, đơn vị TNXP của ông được lệnh bổ sung thẳng vào lực lượng Quân giải phóng. Ông chính thức trở thành người lính của Trung đoàn 6, Quân khu Trị Thiên - đơn vị sau này được vinh danh là Trung đoàn Phú Xuân Anh hùng.

Ông đã tham gia chiến dịch Mậu Thân năm 1968 suốt 26 ngày đêm tại Huế. Những năm tháng trong quân ngũ, ông và đồng đội phải đối mặt với nhiều gian khổ. "Người rận, quần áo rận, rồi đầu thì chấy, rồi ghẻ lở hắc lào đầy thân", ông kể. Họ sống và chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn nhưng tinh thần thì chưa bao giờ nao núng. Ông Chiến đã được vinh danh trong bảng vàng ghi công do đã đóng góp nhiều thành tích xuất sắc vào truyền thống của trung đoàn.

Bản thân ông Chiến cũng nhiều lần đối mặt với tử thần, là một trong những người đầu tiên của đơn vị bị sốt rét ác tính. Cơn sốt quật ngã ông khi đang cõng 2 thùng đạn B40 nặng hơn

30 kg. "Sốt lâu ngày rồi nhưng tôi vẫn cố đi", ông kể. Ông ngất đi và bất tỉnh suốt 3 ngày liền. Các đồng đội đã thay nhau cáng ông cùng vũ khí, quân trang, vượt qua những đỉnh núi cao rét buốt để xuống núi chữa trị. "Nếu hôm ấy tiểu đội trưởng mà không nhiệt tình, bảo nghỉ trên đỉnh cao là tôi không qua khỏi rồi", ông bồi hồi nhớ lại.

Năm 1972, khi đang làm liên lạc cho trung đội trưởng hậu cần, một trận bom B-52 đã đánh sập căn hầm của ông Chiến. Một thanh gỗ lớn từ nóc hầm rơi xuống, đập thẳng vào đầu ông. "Chảy máu nhiều lắm", ông kể, nhưng ông đã nén đau để không bị đưa về tuyến sau, không được tiếp tục ở lại chiến đấu cùng anh em.

Trở về "vác tù và hàng tổng"

Năm 1973, sau nhiều năm xa nhà, ông được về phép. Mẹ già thấy con trai đã lớn tuổi, cứ khóc và giục ông cưới vợ. Chiều lòng mẹ, ông kết hôn. Đám cưới diễn ra chóng vánh, và chỉ 12 ngày sau ông lên đường trở lại chiến trường. Đó là lần cuối cùng ông được gặp mẹ. Năm 1974, mẹ ông qua đời khi ông vẫn đang ở tiền tuyến.

Năm 1976, ông Bùi Đình Chiến xuất ngũ, trở về quê hương. Chiến tranh đã lùi xa, nhưng trong ông, tinh thần người lính vẫn vẹn nguyên. Không cho phép mình nghỉ ngơi, ông miệt mài cống hiến cho cộng đồng. Ông làm Bí thư chi bộ hơn 10 năm, kiêm cả xóm trưởng, rồi tham gia Ban Chấp hành Hội Cựu chiến binh, và hiện là Chủ tịch Hội Cựu TNXP của xã.

Khi có người hỏi tại sao ông tuổi cao mà vẫn cứ "vác tù và hàng tổng" mãi, ông cười hiền trả lời: "Tôi ăn cơm Nhà nước từ năm 18 tuổi, đến giờ là bệnh binh, vẫn là ăn "gạo" của Nhà nước. Không vác tù và hàng tổng thì làm cái gì?".

Câu nói mộc mạc ấy chứa đựng một triết lý sống sâu sắc: triết lý về sự cống hiến và trách nhiệm. Với ông, phục vụ nhân dân, phục vụ quê hương không phải là gánh nặng, mà là một niềm vinh dự, một cách để trả ơn đất nước. Hành trang tự hào của ông là hàng chục tấm huân, huy chương về một thời hoa lửa và bằng khen, giấy khen khi tham gia công việc thời bình, trong đó có Huân chương Kháng chiến hạng 3 do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước trao tặng.

Chia sẻ với phóng viên Thanh Niên, ông Phạm Văn Toàn, Phó chủ tịch Ủy ban MTTQ VN xã, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã Khánh Thiện, cho biết ông Bùi Đình Chiến là cán bộ hội nhiệt tình, trách nhiệm, luôn đi đầu trong mọi nhiệm vụ được giao. Ông Chiến đã được các cấp khen thưởng với nhiều bằng khen, giấy khen.

Cuộc đời ông Bùi Đình Chiến là bản trường ca về lòng yêu nước, về sự hy sinh thầm lặng của cả một thế hệ. Câu chuyện của ông mãi là bài học quý giá, là ngọn lửa truyền lại cho thế hệ trẻ hôm nay về tình yêu Tổ quốc và tinh thần phụng sự không bao giờ tắt.

2. Truyện: 1.000 ngày giữ đảo

Như những chàng trai, cô gái tuổi đôi mươi cùng thế hệ, năm 1962, chàng thanh niên Lê Hữu Trạc nhập ngũ và được biên chế vào Đại đội Lê Hồng Phong, Tiểu đoàn 4, Sư đoàn 341 đóng quân ở Vĩnh Linh, Quảng Trị với nhiệm vụ bảo vệ giới tuyến.

Năm 1965, khi cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ bước vào giai đoạn ác liệt, đảo Cồn Cỏ, được mệnh danh là “mắt thần” của miền Bắc trở thành mục tiêu đánh phá của máy bay, tàu chiến Mỹ. Để bảo vệ “mắt thần”, Đại đội Lê Hồng Phong được lệnh cử một trung đội ra Cồn Cỏ.

“Lúc này, hàng ngày các tàu khu trục, tàu tuần dương bao vây đảo và trên đầu là máy bay quần thảo, nhiệm vụ rất gian khổ và hiểm nguy nhưng ai cũng mong được ra Cồn Cỏ. Để “cạnh tranh” cùng các đơn vị khác, tôi là Trung đội phó, Bí thư chi bộ đã họp tổ Đảng và trình bày sáng kiến cạo trọc đầu để tiết kiệm tối đa nước ngọt gội đầu khi ra đảo. Với lòng quyết tâm và sáng kiến đó, trung đội “cạo trọc” của chúng tôi đã được chỉ huy Đại đội Lê Hồng Phong lựa chọn ra giữ đảo Cồn Cỏ”, ông Trạc nhớ lại.

Và đêm mùa hè tháng 7/1965, giữa muôn trùng sóng gió và sự bao vây của máy bay, tàu chiến địch, Trung đội 3 vượt 17 hải lý và đặt chân lên đảo tiền tiêu. Gần 1.000 ngày giữ đảo, ông không thể nhớ hết có bao nhiêu trận bom, bao nhiêu cuộc chiến. Dưới mưa bom bão đạn, hòn đảo có khi không còn một bóng cây, mặt đất bị cày đi xới lại. Vừa chiến đấu, ông và đồng đội vừa đào công sự, hầm hào. Có những thời điểm ác liệt, tiếp tế nhu yếu phẩm từ đất liền gián đoạn, họ phải sống cầm hơi, chặt chuối rừng vắt nước uống. Người lính này hy sinh, người lính khác xông lên thay thế. Nhiều đồng đội của ông đã ngã xuống và thân xác mãi nằm lại trên đảo.

“Sau này, tôi nghe lịch sử thống kê lại từ năm 1964-1968, có trên 1,3 vạn quả bom và hàng vạn quả rốc két ném xuống Cồn Cỏ; 172 lần tàu chiến bắn trên 4 nghìn quả đạn pháo lên đảo. Bình quân mỗi cán bộ, chiến sĩ hứng chịu gần 40 tấn bom đạn và mỗi ha đất là 22,6 tấn. Còn lúc đó, chúng tôi chỉ biết ngày nào cũng bom rơi đạn nổ. Cồn Cỏ vô cùng ác liệt, nhưng phía sau chúng tôi có cán bộ, nhân dân Vĩnh Linh anh hùng, tình nghĩa sẵn sàng xung phong tiếp tế cho đảo. Tôi nhớ cụ Thục, tuổi ngoài 60, là “chuyên gia” theo dõi thời tiết. Mọi chuyến tiếp tế ra đảo hay đưa thương binh vào đất liền nhờ cụ mà “thuận buồm xuôi gió”, Cồn Cỏ nhờ đó mà vững vàng đến ngày chiến thắng!”, ông Trạc bồi hồi kể lại.

Mùa xuân năm 1968, ông được điều động vào đất liền, chỉ huy Đại đội Lê Hồng Phong với mục tiêu chặn đứng đường tiếp viện của địch lên chiến trường Khe Sanh. Đánh chặn tàu địch ở Cửa Việt, đánh sập cầu Bến Ngự, tiêu diệt đại đội thủy quân lục chiến, bắt sống trung úy Mỹ…, những sự kiện vang dội được ông kể lại một cách giản dị. Tháng 8/1968, khi là Tham mưu trưởng Tiểu đoàn 4, E270, Quân khu 4, trong một chuyến trinh sát trận địa ở phía Tây Vĩnh Linh để chống địch đổ bộ bằng đường không, ông bị vướng bom nổ chậm, chiến sĩ liên lạc đi cùng hy sinh tại chỗ còn ông bị hất tung và vỡ nhãn cầu cả 2 mắt...

Điểm tựa giữa đời thường

Thương tích quá nặng, dũng sĩ Lê Hữu Trạc được đưa ra tuyến sau điều trị. 2 mắt bị hỏng, ông phải lắp mắt giả. Vĩnh viễn không thể trở lại chỉ huy chiến trường khi chỉ vừa 28 tuổi, nỗi buồn canh cánh trong lòng ông. Nhưng may mắn trong những ngày ở Trại an dưỡng Ba Vì, ông gặp cô gái quê Hà Tây Kim Thị Mão, vì cảm phục và yêu quý chàng trai Quảng Bình anh hùng, chất phác nên đã nhận lời yêu và làm vợ người thương binh “tàn nhưng không phế”. Năm 1972, cô gái Hà Tây dắt ông trở lại quê nhà Xuân Ninh và sống cuộc đời bình dị.

Phần lớn hồi ức của cựu binh Lê Hữu Trạc là về đồng đội. Đó là những câu chuyện về Đảo trưởng Trần Văn Thà, thủ trưởng của hàng chục người lính được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND; là anh hùng Thái Văn A, Trần Văn Mật, là Đỗ Như Đệ, người liên lạc đã hy sinh trong chuyến trinh sát cùng ông… “Danh hiệu anh hùng của tôi được tô thắm bằng máu của đồng đội”, ông chia sẻ.

Tri ân và nhớ thương đồng đội, tự hào về quá khứ, tin tưởng ở tương lai, ông tỏa ra thứ năng lượng ấm áp, thiện lương và chân thành. Nghe ông kể chuyện, nỗi xúc động, tự hào về quá khứ của quê hương, của các thế hệ cha anh, cứ trào lên… Cuộc đời bi tráng và giản dị của Anh hùng LLVTND Lê Hữu Trạc và những đồng đội của ông, như câu thơ của nhà thơ Hồng Thanh Quang, chính là điểm tựa cho thế hệ hậu sinh không bị lạc lối giữa những cám dỗ đời thường.

3. Truyện: 81 ngày đưa đò trên 'dòng sông máu'

Tiếng bom đạn còn vang vọng trong đầu, tiếng thét đau đớn gọi "mẹ ơi" vẫn chập chờn trong giấc ngủ. Có 4 năm làm du kích nhưng có lẽ điều đọng lại lớn nhất với bà Nguyễn Thị Thu sau này chính là 81 ngày đêm lịch sử chèo đò đưa bộ đội vượt dòng Thạch Hãn.

Vượt mưa bom bão đạn đưa đồng đội qua sông

Những ngày cuối tháng 10, Quảng Trị bắt đầu vào mùa mưa, những trận mưa ào ạt khiến ruộng đồng chìm trong lũ, nước trên dòng Thạch Hãn dâng cao, đục ngầu chảy xiết. Những ngày mưa lớn như thế khiến nữ du kích Nguyễn Thị Thu (71 tuổi, xã Triệu Phong, Quảng Trị) nhớ về những ngày mưa dữ dội của hơn 50 năm trước. Ngày đó, từ trên trời không chỉ đổ nước mà còn trút cả bom, đạn, dưới mặt đất thì máu, mồ hôi và nước mắt của các chiến sĩ hòa vào từng tấc đất thành cổ.

Mùa hè đỏ lửa năm 1972, bà Thu tròn 17 tuổi, tham gia lực lượng du kích tại địa phương. Ở tuổi trăng tròn, bà gặp gỡ, nên duyên với ông Nguyễn Câu (cũng 17 tuổi), con trai ông Nguyễn Con - một ngư dân làm nghề cào hến trên sông Thạch Hãn. Cả hai chỉ mới làm lễ dạm ngõ đơn sơ, chưa kịp đám cưới thì trận chiến nổ ra. Ông Câu sau đó vào miền Nam, bà Thu ở lại cùng bố chồng giúp bộ đội vượt sông Thạch Hãn.

"Lúc đó cả hai chúng tôi chưa tổ chức đám cưới, chỉ mới thăm hỏi nhưng cũng đã coi nhau như vợ chồng. Tôi tham gia lực lượng du kích địa phương, cùng bố chồng ở lại để phục vụ cách mạng, may thay hồi đó có chiếc đò làm phương tiện để đưa các chiến sĩ vượt sông, tiếp cận được thành cổ", bà Thu nhớ lại.

Di chứng bom đạn khiến bà Thu bây giờ nhớ nhớ quên quên. Thế nhưng có những ký ức không bao giờ rời khỏi trí óc, tiếng người bị thương gọi mẹ, tiếng rên la thất thanh, và những chuyến đò đêm mà bà biết nhiều người đi nhưng ít ai trở về.

"Kể từ khi chiến dịch bắt đầu, con đò của tôi đưa hàng ngàn chiến sĩ qua sông. Họ còn trẻ lắm, 18 - 20 tuổi. Đa phần là sinh viên các trường đại học ngoài Hà Nội mới gác bút cầm súng. Điều day dứt nhất là tôi đưa họ đi… nhưng chẳng mấy ai trở lại", bà Thu nghẹn ngào.

Gặp lại chiến sĩ năm xưa

Để bảo vệ Thành cổ Quảng Trị, hàng vạn sinh viên đã đặt bút xuống, khoác lên mình màu áo lính rồi tham gia huấn luyện chỉ trong vài tháng đã lập tức lên đường vào miền Nam. Đến Quảng Trị, họ được chia ra nhiều mũi, nhiều cánh quân để vượt sông Thạch Hãn, tiếp cận thành cổ và chiếc đò của bố con bà Thu chính là phương tiện sống còn.

"Ban ngày địch đánh ác liệt, máy bay quần thảo thả bom, bắn phá. Hầu hết những chuyến đò của tôi đều phải chèo vào ban đêm. Đêm tối như mực, chỉ khi có ánh lửa từ bom đạn lóe lên mới nhìn được mặt nhau một thoáng", bà Thu kể.

Thời điểm đó, ở khu vực gần Thành cổ Quảng Trị chỉ có duy nhất bà Thu cùng ông Con là người đưa bộ đội vượt sông. Ngoài chèo đò, cả hai còn làm người dẫn đường cho các chiến sĩ tiếp cận thành cổ. Bà kể chiếc đò chỉ có 1, mỗi ngày đưa được 10 chuyến, mỗi chuyến chở không quá 10 chiến sĩ, số còn lại bơi vượt sông.

"Có chiến sĩ bị thương nặng lắm, được tôi đưa về vừa đến bờ, chưa kịp chuyển đến trạm quân y thì đã hy sinh. Trước khi hy sinh, họ đau đớn gào thét gọi mẹ ơi, tôi xót xa vô cùng. Tuổi này, do di chứng bom đạn, tôi không nhớ rõ nhiều nhưng nhớ là trong hàng vạn chiến sĩ được tôi chở qua sông, sau này chỉ có 2 người còn sống được tôi chở về", bà Thu nói.

Chiến tranh khốc liệt chẳng để bà kịp nhớ mặt, nhớ tên hai chiến sĩ ấy. Thế rồi mãi 46 năm sau, có một cụ ông tóc bạc phơ vượt hàng trăm cây số từ miền Bắc vào Quảng Trị, tìm gặp lại nữ du kích đưa đò năm xưa.

"Đó là ông Phạm Hùng, cựu chiến sĩ thành cổ hiện đang sống tại Thái Nguyên. Gặp lại người chiến sĩ trẻ năm nào giờ tóc đã bạc phơ, tôi vui lắm nhưng cũng nghẹn ngào… bởi số được như ông Hùng ít quá", bà Thu kể.

Năm 2018, sau khi xem truyền hình về người đưa đò trên sông Thạch Hãn, ký ức gợi lại trong trí nhớ ông Hùng về một người đàn ông già, thân hình gầy gò cùng một nữ du kích gương mặt tròn, bầu bĩnh lái đò đưa chiến sĩ qua sông. Từ đó, ông Hùng quyết tâm tìm thông tin liên lạc để gặp lại.

NỤ CƯỜI TRÊN SÔNG THẠCH HÃN

Trong Bảo tàng Thành cổ Quảng Trị, giữa vô số kỷ vật từ chiếc mũ rách nát, những khẩu súng hoen gỉ, những đồ vật đã in lên mình sự khốc liệt của chiến tranh và màu cũ kỹ của thời gian thì lại xuất hiện một bức ảnh hiếm hoi của một cụ ông nở nụ cười tươi đang lái đò, bên cạnh là một nữ du kích ôm súng, phía sau là gần 10 chiến sĩ cũng đang nở nụ cười tươi.

Bức ảnh có tên Cha con lão ngư dân Triệu Phong chở bộ đội và vũ khí tiếp sức Thành cổ được nhiếp ảnh gia Đoàn Công Tính chụp vào năm 1972. Cụ ông lái đò và nữ du kích ôm súng trong bức ảnh chính là cụ Nguyễn Con và bà Thu.

"Năm 2007, tôi nhận được cuộc gọi hỏi rất kỹ về thông tin của bố tôi và vợ tôi. Họ hỏi có phải nhà tôi chèo đò trên sông Thạch Hãn không, tôi nói phải thì họ vui mừng rồi bảo sẽ vào gặp tôi", ông Nguyễn Câu nhớ lại.

Người liên lạc với ông Câu chính là nhiếp ảnh gia Đoàn Công Tính. Đã hàng chục năm ông Tính đi tìm nhân vật trong chính bức ảnh của mình. Gặp lại vợ chồng bà Thu, ông Câu, người nhiếp ảnh gia trao tặng bức ảnh chụp 35 năm trước rồi được ông Câu dẫn đi thăm mộ cụ Nguyễn Con.

"Nhận bức ảnh tôi nghẹn ngào lắm, tôi cảm ơn ông Tính khi ông là người duy nhất chụp và giữ lại bức ảnh của bố tôi. Bố tôi mất đã lâu, nhưng chẳng có một bức ảnh nào, tôi nhớ gương mặt, nụ cười của ông và thật may mắn khi được ông Tính trao tặng bức ảnh quý giá này", ông Câu nghẹn ngào.

Theo ông Câu, sau khi kết thúc 81 ngày đêm lịch sử, bố của ông lại trở về sống những ngày tháng bình thường, tiếp tục chèo đò cào hến trên sông Thạch Hãn cho đến khi qua đời. Hòa bình lập lại, đất nước thống nhất, ông Câu và bà Thu tổ chức lễ cưới rồi có với nhau 4 người con. Hai vợ chồng nay đều đã qua tuổi 70, họ sống hạnh phúc trong mái nhà nhỏ bên sông Thạch Hãn. Đến dịp đặc biệt, ông Câu lại ra thăm mộ người bố anh hùng, bà Thu lại ghé thành cổ thắp hương cho những chiến sĩ trẻ tuổi được bà đưa đò năm ấy.

"Các cháu, các con cứ nghe đấy, thấy đấy mà nhớ. Nhờ sự hy sinh của các anh nên mới có hòa bình hôm nay", bà Thu nghẹn ngào.

4. NGƯỜI LÍNH GIÀ VÀ KÝ ỨC THÁNG TƯ

Ở tuổi 73, trong ký ức của Thiếu tướng Trần Ngọc Thổ- nguyên Tham mưu trưởng Quân khu 7 vẫn tươi rói những hình ảnh của những ngày tháng Tư lịch sử. Ông là một trong những người trực tiếp tham gia những trận đánh cuối cùng làm nên chiến thắng lịch sử 30/4/1975.

Ruột thịt với miền Nam

Nhập ngũ ngày 30/9/1966, sau khi được huấn luyện vào cánh đồng Chum (Hạ Lào), trở thành lính của Sư đoàn 320, rồi sau đó ông được điều động về Sư đoàn 308, vốn là Đại đoàn quân tiên phong oai hùng của quân đội ta. Với ông, tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh là kỷ niệm sâu sắc nhất, thiêng liêng nhất trong cuộc đời binh nghiệp.

Tướng Thổ hồi tưởng, ngày ấy, lực lượng tổng tiến công của ta gồm 5 cánh quân đánh chiếm các cơ quan đầu não chính quyền Sài Gòn. Khi đó, ông là Tham mưu phó, Trưởng ban Tác chiến cánh quân thứ 5 với nhiệm vụ đánh vu hồi từ Gò Công, hợp cùng các cánh quân khác giải phóng Sài Gòn. Tướng Thổ nhớ, ngày 30/3/1975, ông đang tập huấn tại Bộ Tham mưu Quân khu 8 thì được Trung đoàn 88 gọi về chuẩn bị chiến đấu.

Theo kế hoạch, lực lượng phải hành quân từ huyện Chợ Gạo, Châu Thành (Tiền Giang) vượt sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây ở huyện Tân Trụ, Cần Giuộc (Long An) đến Bình Chánh, vào cầu Chữ Y và đánh chiếm Tổng nha Cảnh sát cùng Khu vực kho xăng Nhà Bè - Sài Gòn. Ông và đồng đội phải tiêu diệt mục tiêu thần tốc và hạn chế đến mức thấp nhất thương vong. Quân ta lần lượt hạ từng đồn bót, kịp tiến về Sài Gòn.

Đến 3 giờ sáng ngày 29/4, Tiểu đoàn 3 của ông báo cáo toàn bộ địch ở đồn cầu Ông Thìn đã tháo chạy. Sáng ngày 30/4/1975, Trung đoàn 88 làm chủ toàn bộ đoạn đường từ cầu Ông Thìn đến Nam huyện Bình Chánh, chuẩn bị đánh vào khu vực cầu Chữ Y. 11 giờ 30 phút cùng ngày, Đài Phát thanh Sài Gòn đưa tin Tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện, ông và đồng đội trào nước mắt, vỡ òa trong hạnh phúc. Lần lượt, từng khoảnh khắc qua từng trận đánh, từng con người, từng địa điểm lần lượt như tuôn ra qua hồi ức của mình.

Tướng Thổ kể, 8 giờ sáng ngày 20/4/1975, ông đưa Tiểu đoàn 1 vượt sông Vàm Cỏ Tây (đoạn Thanh Phú Long sang Nhựt Ninh) để kịp đánh vào Chi khu Tân Trụ - vị trí quan trọng phía Nam Sài Gòn. Nhận được lệnh, ông không khỏi lo ngại vì khúc sông này rộng, lại có đến 13 tàu chiến của địch cách nơi bộ đội vượt sông chỉ 2km. Do đó, các chiến sĩ phải có sự trợ giúp từ địa phương. Chỉ trong 30 phút, cán bộ địa phương huy động được đến 20 ghe máy loại lớn (mỗi chiếc chở được 40 người với đầy đủ trang bị) cùng gần 400 người, trong đó có cả thiếu nhi làm công tác binh vận vô hiệu hóa thuyền chiến của địch. Nhờ vậy, Tiểu đoàn 1 cùng các đại đội trực thuộc (khoảng 600 người) vượt sông thuận lợi.

Lại nhớ, ngày 28/4, trên đường về Sài Gòn, Sở chỉ huy Trung đoàn ở nhờ nhà một má ở Cần Giuộc. Bà má âu yếm nhìn những người lính giải phóng như nhìn mấy đứa con ở xa mới về. “Nhà có mấy con ngỗng, má định làm thịt cho chúng tôi bồi dưỡng, nhưng mấy chị cản, cho là ăn ngỗng… xui nên cả đàn gà hơn 30 con, má dành hết cho anh em lấy thêm sức chiến đấu”, ông hồi tưởng.

“Tám” Thổ của má!

Kể về những bà má ở khu 8 nuôi bộ đội những năm kháng chiến, ông Thổ nghẹn ngào như đang kể về mẹ ruột của mình. Ông thao thao bất tuyệt về má Bảy hay tiếp tế cho bộ đội ở Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Cuối năm 1968, má bị buộc chuyển vào sống trong vùng địch. Dù má cũng không đủ ăn nhưng trước khi đi, má chôn một lu lương thực gồm mì gói, đường và cá muối cho bộ đội. Người mà ông nhớ nhất là má Tư Bún ở Tiền Giang, người nhận ông làm con nuôi và đặt cho ông “thứ Tám”, cái danh xưng thân thương đặc trưng Nam bộ. Bởi, con của má là liệt sĩ Tám Phước đã hy sinh. Thế nên, ông còn được gọi là anh “Tám Thổ”.

“Cuối tháng 4/1975, khi tiểu đoàn được lệnh về Sài Gòn gấp tham gia chiến dịch, nhà nghèo lắm mà má bán 40 giạ lúa, gửi chúng tôi lên đường. Má còn dặn lỡ đứa nào bị thương thì về ở với má”, ông nghẹn ngào. Rồi ông nhớ mấy ngày hành quân từ Gò Công về Sài Gòn, đi đến đâu cũng vậy, hai bên đường, dân để sẵn nước, thậm chí chặt dừa cho bộ đội uống; có người còn lấy xe đạp, xe máy chở những người đuối sức. Họ dù không quen mà như ruột thịt. Bởi vì, họ cùng chung ước vọng đất nước hòa bình, gửi trao niềm tin cho đoàn quân giải phóng. Đó là động lực để các anh giữ trọn niềm tin quyết thắng.

Thiếu tướng Trần Ngọc Thổ, sinh ra trên đất Bắc nhưng gắn cuộc đời binh nghiệp với đất phương Nam, từng vào sinh ra tử, oai hùng ngoài chiến trận, vậy mà mỗi lần nhắc đến những bà mẹ quê Nam bộ lại xúc động rưng rưng. 44 năm trôi qua, đồng đội của ông có người còn, người mất, có người chưa tìm được hài cốt. Tài sản quý nhất của vị tướng tuổi xế chiều không phải là những huân, huy chương mà chính là ký ức về tình đồng đội, tấm lòng của những người má, người chị đã cưu mang ông trong những năm dài chinh chiến. Đây là sức mạnh vô hình, góp phần làm nên chiến công 30/4 lịch sử. Giờ đây, Thiếu tướng Trần Ngọc Thổ vẫn muốn tri ân cuộc đời khi còn minh mẫn, đủ sức khỏe. Với cương vị Phó Chủ tịch Trung ương Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam, Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Thành phố Hồ Chí Minh, ông vẫn miệt mài đấu tranh giành công bằng cho những người nhiễm chất độc do quân đội Mỹ gieo rắc. Ông cũng ấp ủ kế hoạch thành lập Hội Nạn nhân bom, mìn, những người chịu hậu quả của cuộc chiến năm xưa.

Ký ức còn mãi

Ông cũng nhớ như in cả những câu chuyện lúc đơn vị mình đặt chân tới cửa ngõ Sài Gòn. Những ngày cuối tháng 4/1975 đơn vị của ông được lệnh tiến về Sài Gòn, lúc này các cánh quân ta đánh “tốc chiến, tốc thắng” nên các mục tiêu được xác định và bao vây rất nhanh chóng, trong đó có nơi bị tan rã, có nơi chống trả quyết liệt. Nhưng cũng có nơi ở trong thế dùng dằng như một cứ điểm tại Cần Giuộc (Long An). “Khi đó chúng tôi tiến hành bao vây nơi này nhưng cả hai bên đều chưa nổ súng. Nghĩ rằng trận chiến sẽ rất cam go nên tôi cho anh em nấu cơm, chuẩn bị. Nhưng khi vừa nhóm lửa thì có tiếng loa ở trong cứ điểm vọng ra nói, chúng tôi nấu cơm thì nên… tránh để khói bay ra nhiều nếu không sẽ tự làm mục tiêu cho phi pháo. Sau này tôi mới biết là khi đó những người lính bên trong họ cũng không muốn chiến đấu, bởi rất muốn buông súng đầu hàng, trở về với gia đình càng nhanh càng tốt”, ông kể.

Bên cạnh những câu chuyện xúc động về tình người, tình đồng đội, đôi khi ông cũng bật cười khi gặp phải những tình huống cho thấy hình ảnh của mình đã bị “bóp méo” đến… buồn cười. Hôm đó là ngày 30/4, ông cùng đơn vị tiến vào Sài Gòn, lúc này đa số binh lính đã đầu hàng, tuy nhiên để chắc chắn đơn vị vẫn phải chia nhau để đi vào từng nhà kiểm tra. Lúc này, các nhà ở khu Nhà Bè gần như chỉ có phụ nữ và trẻ em ở lại.

Tại một căn nhà, ông đã tìm được bốn cô gái đang run lẩy bẩy, trốn trong… gầm giường. Ông phải trấn an một hồi thì những cô gái này mới dám bò ra và ngập ngừng nói rằng họ làm vậy là vì sợ khi bắt được sẽ bị “rút móng tay”. Tuy nhiên, cảm giác sợ sệt liền tan biến ngay sau đó. Trước sự chân thành của các “chú giải phóng” chính những cô gái này đã nấu cơm để đơn vị ông ăn và tiếp tục lên đường. Cảm động nhất đối với ông lại là chuyện một số cụ già ở khu vực Nhà Bè, sau giây phút sợ sệt đã tiến lại và kéo tay áo của ông lên rồi nói lớn: “Lính giải phóng tụi bay cũng trắng trẻo chứ có lông lá gì đâu”, Tướng Thổ nheo mắt nhớ lại./.

5. ÁNH ĐÈN BÊN CHIẾN TRẬN

“Mẹ ơi con bước vào trang sử

Máu đỏ tim hồng viết bản hùng ca

Giữa đạn bom con giữ vững quê nhà

Cho tổ quốc ngập tràn sắc cờ hoa”

Dưới làn sóng mưa bão, những chàng trai tuổi đôi mươi vẫn cười vang giữa chiến hào. Họ lấy tình đồng đội, chia nhau từng giọt nước, từng lát khoai giữa rừng sâu. Có người ngã xuống khi chưa kịp đáp lời từ biệt, nhưng đồng đội vẫn giữ lời hứa: “Hãy sống thay phần của những người đã đi xa.” Từ những trận chiến oanh liệt ở Điện Biên Phủ, những ngày tháng căng thẳng trên dãy Trường Sơn, cho đến những tháng chiến đấu bảo vệ biên giới, những người lính ấy luôn mang trong mình tinh thần thép, trái tim cháy cháy tình yêu quê hương và niềm tin vào chiến thắng.

“Mẹ ơi con bước vào trang sử

Máu đỏ tim hồng viết bản hùng ca

Giữa đạn bom con giữ vững quê nhà

Cho tổ quốc ngập tràn sắc cờ hoa”

Dưới làn sóng mưa bão, những chàng trai tuổi đôi mươi vẫn cười vang giữa chiến hào. Họ lấy tình đồng đội, chia nhau từng giọt nước, từng lát khoai giữa rừng sâu. Có người ngã xuống khi chưa kịp đáp lời từ biệt, nhưng đồng đội vẫn giữ lời hứa: “Hãy sống thay phần của những người đã đi xa.” Từ những trận chiến oanh liệt ở Điện Biên Phủ, những ngày tháng căng thẳng trên dãy Trường Sơn, cho đến những tháng chiến đấu bảo vệ biên giới, những người lính ấy luôn mang trong mình tinh thần thép, trái tim cháy cháy tình yêu quê hương và niềm tin vào chiến thắng.

Mùa thu năm 1950, dưới lời kêu gọi các chiến sĩ, nhân dân đứng dậy tham gia chiến dịch tiến công vào phòng tuyến của quân Pháp trên chiến tuyến Cao Bằng – Lạng Sơn, chàng trai Phạm Trí Liên (Sinh năm 1930, trú tại TDP Phùng Hưng, phường Cảnh Thụy) khi ấy tròn 20 tuổi đã xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ. Ông kể, “Đó là những đêm hành quân xuyên rừng, đối mặt với đạn pháo, bệnh tật, thiếu thốn lương thực, thuốc men. Có đồng đội bị mảnh đạn văng vào làm mù mắt, có người mất cả đôi chân vì giẫm phải mìn. Ranh giới giữa sự sống và cái chết lúc ấy mong manh lắm. Thế nhưng, các chiến sĩ của ta đều kiên cường tiến về phía trước để thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả”. Con đường số 4 đoạn qua đèo Bông Lau - Lũng Phầy dài gần chục km thuộc địa phận huyện Tràng Định, giáp tỉnh Cao Bằng, có địa thế hiểm trở, một bên núi dựng, một bên khe sâu. Con đường đèo vắt ngang qua sườn núi được coi là “cửa tử” của mọi thế trận phục kích. Theo ông Phạm Trí Liên, những ngày sôi động đó, ông là lính trinh sát nên thường đi thực địa kiểm tra thì thấy cây cối um tùm, địa hình mấp mô. Tại đây, các tổ, đội công tác của ta tổ chức đào công sự kéo dài hàng km, đồng thời chuẩn bị các trận địa súng cối, súng bazooka. Khi nghe thấy tiếng ô tô của địch đi trên đường là lập tức triển khai lực lượng vây đánh. Địch cứ thế bị thất bại, tiêu diệt, quân ta phá hủy 53 xe, đốt cháy 10 vạn lít xăng, diệt 250 lính Âu- Phi trong đó có 2 sỹ quan. Đến tối 10/10/1950, huyện Tràng Định hoàn toàn giải phóng. Trên đường chỉ huy chiến dịch, tối cùng ngày, Bác Hồ đã gặp mặt cán bộ, chiến sỹ đại đoàn 308 và nhân dân xã Chi Lăng, huyện Tràng Định. Chiến thắng biên giới Thu - Đông 1950 đã làm phá sản kế hoạch quân sự, chính trị của thực dân Pháp. Nhờ chiến thắng này, chúng ta đã khai thông 750 km đường biên giới Việt - Trung với 35 vạn dân, phá thế kìm kẹp của thực dân Pháp đối với căn cứ địa Việt Bắc.

Sau đó, ông Liên lui về hậu phương tiếp tế cho một số chiến dịch như Hoàng Hoa Thám, chiến dịch Hà Nam Ninh,.. Đến đầu năm 1954 Pháp xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ gồm 49 cứ điểm, chia thành 3 phân khu (Bắc – Trung tâm – Nam) với mục đích biến nơi này thành “pháo đài bất khả xâm phạm”, dụ quân ta vào trận đánh lớn để “nghiền nát chủ lực Việt Minh”. Trong bối cảnh ấy, Bác Hồ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta anh dũng bước vào cuộc kháng chiến. Lúc ấy, người bộ đội cụ Hồ Phạm Chí Liên đã ra trận tiếp tục công cuộc chiến đấu bảo vệ đất nước. Ông hành quân lên lĩnh điểm cao, “khó khăn nhất là địa hình đồi núi dốc, không có đường cơ động, quá trình thực hiện nhiệm vụ thường xuyên thiếu nước uống nên mất rất nhiều ngày anh em mới chiếm lĩnh được trận địa để bước vào chiến đấu", cựu chiến binh Phạm Trí Liên nhớ lại. Ông khi đó giữ chức Trung đội phó được giao nhiệm vụ bắn từ xa vào chiến trận của địch, ông kể lại “Sáng sớm, lệnh của sư đoàn yêu cầu đánh vào quân Pháp đang tập thể dục, ông cùng đồng đội cầm chiếc súng cối 160 li nấp ngay sau chiến hào bắn thẳng vào quân địch, tiêu diệt được 12 quân cùng 2 người bị thương nặng. Còn có một lần, quân địch rút lui, ông cùng những người chiến sĩ đã quả cảm cầm pháo đuổi theo cả đội quân đang tháo chạy, cùng lúc đánh tan ý định rút lui của quân Pháp, gần như hết cả một trung đội không ai đi được nữa”. Có những ngày, quân tiếp tế không tiếp cận được chiến trường, ông phải ăn muối, uống nước sông vô cùng đói khổ mệt nhoài, ông Liên nói “Hôm nào ăn ngon lắm cũng chỉ là ít nắm cơm với 1-2 chai nước cả tiểu đội chia nhau uống”. Chiến đấu anh dũng được gần 1 tháng, không may trong một lần bắn pháo, ông bị quân địch nhắm vào và bị thương nặng phải vào nhà thương binh nằm chữa trị suốt cả trận chiến. Nhưng không vì thế mà ông chịu trận trước số phận, trước sức khỏe. Sau khi phục hồi, có thể đi lại, ông đã cùng các bác sĩ giúp chữa trị cho các đồng đội khác, thỉnh thoảng vẫn theo dõi quân địch rồi báo về cho trung đoàn. Ông bảo, ngày nghe tin quân ta chiến thắng dường như mọi mệt mỏi, đau đớn trong ông đều tan biến, cuối cùng ông cũng có thể về bên vòng tay ấm áp của mẹ, của gia đình rồi... 71 năm đã trôi qua, song ký ức của những người cựu chiến binh về một thời hoa lửa trên chiến trường Điện Biên Phủ vẫn không hề xóa nhòa. Bởi đó là những năm tháng rực rỡ nhất, nơi họ đã dùng máu viết nên lịch sử bằng chiến thắng lừng "lẫy năm châu, chấn động địa cầu".

Cuộc đời ông Phạm Trí Liên là bản trường ca về lòng yêu nước, về sự hy sinh thầm lặng của cả một thế hệ. Câu chuyện của ông mãi là bài học quý giá, là ngọn lửa truyền lại cho thế hệ trẻ hôm nay về tình yêu Tổ quốc và tinh thần phụng sự không bao giờ tắt. “Các cháu, các con cứ nghe đấy, thấy đấy mà nhớ. Nhờ sự hy sinh của các anh nên mới có hòa bình hôm nay", ông Liên nghẹn ngào.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Bùi Đình Chiến | Câu chuyện thời hoa lửa