BÙI ĐỨC SƠN – TỪ NGƯỜI Y TÁ CỨU THƯƠNG BINH ĐẾN ĐẠI ĐỘI TRƯỞNG ĐẶC CÔNG
Bùi Đức Sơn sinh năm 1948, quê xã Hoài Hảo, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, nhập ngũ tháng 5-1965. Từ một người lính làm nhiệm vụ quân y, ông trưởng thành thành Đại đội trưởng Đại đội 72 đặc công, Trung đoàn 12, Quân khu 5. Theo tài liệu, ông trực tiếp chiến đấu 50 trận, diệt 70 quân đối phương, bắn rơi 1 máy bay, phá hủy 1 kho vũ khí, thu 15 súng và từng cõng 24 thương binh khỏi trận địa. Ngày 20-9-1971, Bùi Đức Sơn được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Bùi Đức Sơn sinh năm 1948 tại xã Hoài Hảo, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
Tháng 5 năm 1965, khi khoảng 17 tuổi, ông nhập ngũ và bước vào những năm tháng chiến đấu tại chiến trường Quân khu 5.
Con đường binh nghiệp của Bùi Đức Sơn khá đặc biệt.
Ông từng làm y tá, trực tiếp cứu chữa thương binh giữa chiến trường. Sau đó, từ thực tiễn chiến đấu, ông trưởng thành qua các cương vị chỉ huy và trở thành Đại đội trưởng Đại đội 72 đặc công.
Theo tài liệu tuyên dương, Bùi Đức Sơn trực tiếp tham gia 50 trận.
Riêng ông được ghi nhận:
Diệt 70 quân đối phương, trong đó có 41 lính Mỹ;
bắn rơi 1 máy bay;
phá hủy 1 kho vũ khí;
thu 15 súng.
Nhưng một trong những con số đáng chú ý nhất trong câu chuyện của ông lại gắn với nhiệm vụ cứu người:
24 thương binh được Bùi Đức Sơn cõng từ trận địa về nơi an toàn.
CHỢ CÁT – BỊ THƯƠNG VẪN TIẾP TỤC CHIẾN ĐẤU
Ngày 7 tháng 2 năm 1966, Bùi Đức Sơn tham gia trận đánh tại Chợ Cát.
Trong trận này, theo tài liệu, ông trực tiếp diệt 12 quân Mỹ, bắn rơi 1 máy bay.
Bùi Đức Sơn bị thương.
Nhưng ông vẫn tiếp tục chiến đấu.
Đó cũng là phẩm chất được thể hiện nhiều lần trong những năm sau này: khi tình huống trở nên khó khăn, ông không rời nhiệm vụ mà tiếp tục chiến đấu hoặc tìm cách bảo vệ đồng đội.
AN ĐỊNH – NGƯỜI Y TÁ Ở LẠI VỚI THƯƠNG BINH
Ngày 17 tháng 12 năm 1968, đơn vị chiến đấu tại An Định.
Khi ấy Bùi Đức Sơn làm y tá.
Giữa trận đánh, ông vừa băng bó, cấp cứu thương binh, vừa trực tiếp chiến đấu.
Theo tài liệu, ông diệt 9 quân đối phương.
Sau đó đơn vị phải cơ động.
Nhưng thương binh chưa thể di chuyển hết.
Bùi Đức Sơn ở lại bảo vệ thương binh.
Đối phương tiến đến.
Chỉ còn một mình, ông tiếp tục chiến đấu và diệt thêm 3 người.
Tình thế ngày càng nguy hiểm.
Bùi Đức Sơn sử dụng lựu đạn khói tạo màn che, rồi cõng một thương binh rời khỏi khu vực chiến đấu.
Trời gần sáng.
Ông tiếp tục cõng người đồng đội bị thương lên núi tìm nơi ẩn náu.
Không có điều kiện tiếp tế, Bùi Đức Sơn hái rau, đào củ rừng tìm thức ăn nuôi thương binh.
Đợi đến đêm, ông lại cõng đồng đội tìm đường trở về đơn vị.
Câu chuyện ấy cho thấy một khía cạnh khác của người lính trên chiến trường: bên cạnh nhiệm vụ chiến đấu còn là quyết tâm không bỏ lại đồng đội bị thương.
GÒ Ú – KHI MŨI ĐẶC CÔNG BỊ LỘ
Sau thời gian làm y tá, Bùi Đức Sơn trưởng thành lên cán bộ chỉ huy.
Trong trận đánh tại Gò Ú, khi ấy ông là đại đội phó.
Đơn vị bí mật tiếp cận mục tiêu.
Nhưng khi vừa đến hàng rào, đội hình bị phát hiện.
Đối phương lập tức tập trung hỏa lực bắn ra dữ dội.
Yếu tố bí mật của trận đánh đứng trước nguy cơ bị phá vỡ.
Bùi Đức Sơn nhanh chóng xử trí.
Thay vì để đơn vị dừng lại dưới hỏa lực, ông chỉ huy lực lượng nhanh chóng thọc sâu vào bên trong.
Bản thân Bùi Đức Sơn vừa chỉ huy, vừa trực tiếp chiến đấu.
Theo tài liệu, ông đánh sập 3 nhà, 1 lô cốt, diệt hàng chục quân đối phương và thu một khẩu đại liên.
Sự xử trí nhanh chóng đã góp phần tạo điều kiện để đơn vị tiêu diệt lực lượng đối phương tại mục tiêu.
KIẾN AN – ĐẠI ĐỘI TRƯỞNG TỰ MÌNH BÒ VÀO TRINH SÁT
Đêm 29 tháng 8 năm 1970, Bùi Đức Sơn lúc này đã là đại đội trưởng.
Ông dẫn đơn vị tiến công đối phương tại Kiến An.
Khi gần đến vị trí chiến đấu, Bùi Đức Sơn phát hiện dấu hiệu có lực lượng đối phương đang phục kích.
Nếu tiếp tục đưa cả đại đội tiến lên, đơn vị có thể rơi vào thế bất lợi.
Ông quyết định cho bộ đội tạm dừng ở phía ngoài.
Còn bản thân mình, Bùi Đức Sơn bò vào phía trước để trực tiếp kiểm tra lại tình hình.
Sau khi nắm được tình hình cụ thể, ông trở về tổ chức và động viên đơn vị tiếp tục chiến đấu.
Theo tài liệu, trận đánh kết thúc với việc đơn vị tiêu diệt gọn một đại đội và một trung đội đối phương.
Hình ảnh người đại đội trưởng tự mình bò lên phía trước kiểm tra trận địa thể hiện phong cách chỉ huy sâu sát, thận trọng trong trinh sát nhưng kiên quyết khi hành động.
XÔNG VÀO KHU VỰC ĐANG BỊ NÉM BOM ĐỂ CỨU DÂN
Không phải mọi hành động đáng nhớ của Bùi Đức Sơn đều diễn ra trong những trận tiến công.
Có lần, giữa lúc máy bay đang đánh bom, ông phát hiện người dân gặp nguy hiểm.
Bùi Đức Sơn xông vào khu vực đang bị đánh phá, cứu được một cụ già và một em bé.
Hành động ấy khiến ông được nhân dân và đồng đội tin yêu.
TỪ CHIẾN SĨ QUÂN Y ĐẾN NGƯỜI CHỈ HUY ĐẶC CÔNG
Hành trình của Bùi Đức Sơn có một nét rất riêng.
Ông không chỉ được biết đến với tư cách một chiến sĩ đặc công trực tiếp chiến đấu.
Có thời điểm, nhiệm vụ của ông là cứu chữa và bảo vệ thương binh.
Khi làm y tá, ông vừa cứu người vừa chiến đấu và cõng thương binh ra khỏi trận địa.
Khi trở thành cán bộ, ông trực tiếp đi cùng những mũi tiến công, xử trí các tình huống khi đội hình bị lộ và tự mình trinh sát khi phát hiện nguy cơ phục kích.
Từ một thanh niên nhập ngũ ở tuổi 17, Bùi Đức Sơn từng bước trưởng thành thành Đại đội trưởng Đại đội 72 đặc công.
NGƯỜI ANH HÙNG 23 TUỔI
Bùi Đức Sơn được tặng thưởng:
4 Huân chương Chiến công giải phóng;
3 lần danh hiệu Chiến sĩ thi đua;
7 lần danh hiệu Dũng sĩ.
Ngày 20 tháng 9 năm 1971, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng Bùi Đức Sơn danh hiệu:
ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN GIẢI PHÓNG
Khi ấy, ông khoảng 23 tuổi.
Nếu những trận Gò Ú và Kiến An cho thấy bản lĩnh của một cán bộ đặc công, thì câu chuyện tại An Định lại khắc họa một Bùi Đức Sơn rất khác: người y tá ở lại giữa chiến trường bảo vệ thương binh, tạo màn khói che chở rồi cõng đồng đội lên núi, tìm rau củ nuôi người bị thương và chờ đêm xuống để đưa về đơn vị. Chính sự kết hợp giữa lòng dũng cảm trong chiến đấu và trách nhiệm với đồng đội tạo nên nét nổi bật trong câu chuyện của Bùi Đức Sơn.



