Bùi Thị Cúc: Đóa hoa sen hết ngét hương trên mảnh đất nhãn Hưng Yên
Bùi Thị Cúc: Đóa hoa sen hết ngét hương trên mảnh đất nhãn Hưng Yên
Bùi Thị Cúc: Đóa hoa sen hết ngét hương trên mảnh đất nhãn Hưng Yên
Trong cuốn biên niên sử vàng chói lọi của Công an nhân dân Việt Nam, có những cái tên đã trở thành biểu tượng cho lòng trung kiên, bất khuất. Giữa muôn vàn vì sao tinh tú ấy, nữ anh hùng liệt sỹ Bùi Thị Cúc (tên thật là Trần Thị Lan) hiện lên như một đóa sen ngát hương, mọc lên từ bùn lầy của kiếp nô lệ để tỏa sáng rực rỡ dưới ánh sáng cách mạng. Chị ra đi khi tuổi đời chưa tròn đôi mươi – cái độ tuổi đẹp nhất của đời người với bao hoài bão và ước mơ – nhưng sự hy sinh của chị đã hóa thân thành hồn thiêng sông núi. Với sáu chữ vàng “Sống anh dũng, chết vẻ vang” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đích thân truy tặng, cuộc đời chị đã trở thành một bài ca khải hoàn về ý chí của người chiến sỹ cộng sản, một tấm gương sáng ngời cho các thế hệ mai sau soi rọi và tự hào.
Sinh năm 1930 tại làng Vân Mạc, xã Quang Trung (nay là xã Vân Du), huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên, Trần Thị Lan lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo khó nhưng giàu truyền thống cách mạng. Hưng Yên những năm đầu thế kỷ XX là mảnh đất của những người con kiên cường, nhưng cũng là nơi chịu ách áp bức nặng nề của chế độ phong kiến tay sai.
Gia đình có bảy anh chị em, chị Lan là con thứ năm. Cảnh nghèo túng bủa vây khiến chị không được đến trường, không biết đến con chữ. Thay vào đó, từ khi còn là một đứa trẻ, chị đã phải đi ở cho địa chủ, nếm trải mọi đắng cay, nhục nhã của kiếp người làm thuê. Những roi vọt của bọn cường hào ác bá không làm chị gục ngã, trái lại, chúng đã hun đúc trong lòng cô gái trẻ một ý chí phản kháng mãnh liệt.
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công như một luồng ánh sáng diệu kỳ rọi vào cuộc đời tối tăm của chị. Được trở về đoàn tụ với gia đình, chị Lan như được sinh ra lần thứ hai. Với lòng biết ơn Đảng và Bác Hồ sâu sắc, chị tích cực tham gia lớp bình dân học vụ, hăng hái sinh hoạt đoàn thể tại địa phương. Nhờ sự thông minh, cần cù và tinh thần giác ngộ cách mạng cao, chị sớm được các đồng chí Đảng viên tin tưởng dìu dắt. Cuối năm 1947, chị vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam và đảm nhiệm chức vụ Ủy viên Ban chấp hành Hội phụ nữ huyện Ân Thi khi mới vừa tròn 17 tuổi.
Giai đoạn 1947 – 1948, thực dân Pháp điên cuồng thực hiện âm mưu bình định, lập tề, trừ gian tại vùng đồng bằng Bắc Bộ. Hưng Yên trở thành chiến trường khốc liệt với hệ thống đồn bốt dày đặc. Trước tình hình đó, Tỉnh ủy Hưng Yên chủ trương đẩy mạnh công tác địch vận và phản gián nhằm tiêu diệt những tên việt gian đầu sỏ, làm thất bại kế hoạch của quân thù.
Tháng 12/1949, chị Cúc chính thức trở thành cán bộ Công an quận 3, tỉnh Hưng Yên. Nhiệm vụ của chị vô cùng đặc biệt: Thâm nhập vào hàng ngũ kẻ thù để nắm tình hình và tiêu diệt tên sếp bốt Nguyễn Doãn Nhi – một con “cáo già” gian ác, kẻ đã gây ra biết bao nợ máu với nhân dân Ân Thi và làm tổn thất lớn cho cơ sở cách mạng của ta.
Để tạo vỏ bọc hợp pháp, tổ chức cấp cho chị một ít vốn để làm nghề buôn bán nhỏ. Hàng ngày, với gánh muối trên vai, chị lân la khắp các chợ gần bốt Cảnh Lâm. Đau đớn thay, để bảo vệ bí mật nhiệm vụ, chị phải chấp nhận nỗi oan khiên lớn nhất đời người: sự nghi ngờ của gia đình và sự khinh khi của dân làng. Người ta bảo chị “cầu an”, “theo giặc”, thậm chí có người còn dành cho chị những ánh mắt đầy thù hận. Nén nỗi đau vào lòng, chị âm thầm làm việc, dùng nhan sắc và sự dịu dàng, khôn khéo của mình để tiếp cận và chiếm lấy lòng tin của tên sếp bốt Nguyễn Doãn Nhi.
Nhờ sự mưu trí, chị Cúc đã khéo léo đưa được đồng đội vào hàng ngũ của địch để hoạt động ngầm. Khi thời cơ chín muồi, sáng ngày 2/5/1950, chị đã thực hiện một kế hoạch táo bạo: Dụ tên Nhi đến nhà ông Ba ở thôn Vân Mạc để tiêu diệt. Với sự phối hợp nhịp nhàng của đội Việt Dũng, tên sếp bốt khét tiếng đã phải đền tội. Ta thu giữ được vũ khí và tài liệu quan trọng, rút lui an toàn.
Tuy nhiên, sự hy sinh lớn lao bắt đầu từ đây. Để bảo vệ các cơ sở cách mạng và cứu 44 người dân bị giặc bắt bớ sau vụ ám sát, chị Cúc đã không chạy trốn mà chấp nhận ở lại và bị địch bắt do có kẻ chỉ điểm. Bọn giặc đã dùng những hình phạt tàn khốc nhất thời trung cổ để tra tấn chị: đóng cọc, căng tay chân, dùng dao cắt từng thớ thịt trên cơ thể chị ngay giữa phiên chợ Cảnh Lâm vào ngày 15/5/1950.
Trước sự dã man của kẻ thù và sự chứng kiến đau xót của hàng ngàn người dân, chị Bùi Thị Cúc vẫn không một lời khai báo. Chị hiên ngang tuyên bố: “Tôi là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, chính tôi đã giết tên Nhi!”. Sự kiên cường của chị đã khiến kẻ thù phải khiếp nhược, đồng thời khơi dậy ngọn lửa căm thù và ý chí chiến đấu trong lòng quần chúng nhân dân. Chị hy sinh khi tuổi đời mới chỉ 20, máu của chị đã thấm đẫm mảnh đất quê hương, hóa thân thành hoa quả ngọt ngào cho ngày độc lập.
Sáu chữ vàng “Sống anh dũng, chết vẻ vang” mà Bác Hồ tặng cho chị không chỉ là phần thưởng cao quý cho cá nhân chị, mà còn là niềm tự hào của cả lực lượng Công an nhân dân. Chị Bùi Thị Cúc đã đi vào cõi vĩnh hằng, nhưng tinh thần của chị vẫn luôn sống mãi. Tên của chị được đặt cho những con đường, những ngôi trường và trở thành bài học vỡ lòng về lòng yêu nước cho bao thế hệ học sinh.



