Bùi Văn Thuyên – Người chiến sĩ “bám sát nách Mỹ để đánh Mỹ”
Phạm Anh Thư
Trong những ngày cuối tháng mười, từ Thành phố Tây Ninh, chúng tôi tìm đường lên ấp Sa Nghe, xã An Cơ, huyện Châu Thành để gặp Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Bùi Văn Thuyên, người mà bà con vẫn thân mật gọi là chú Năm Thuyên. Con đường chỉ khoảng ba chục cây số nhưng đầy bụi đỏ vì đang thi công. Khi chúng tôi đến nơi, cả người và xe đều phủ một lớp bụi, vậy mà chú Năm vẫn niềm nở bước ra tận cổng đón khách.
Bùi Văn Thuyên sinh năm 1940 tại ấp Sa Nghe, xã An Cơ, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, trong một gia đình nông dân nghèo nhưng giàu truyền thống yêu nước. Cha và Anh Hai của ông từng tham gia kháng chiến chống Pháp. Trong gia đình, có tới 5 anh em là liệt sĩ, mẹ ông được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Bản thân ông là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Người vợ đầu của ông từng là biệt động thành và hy sinh năm 1972; người vợ sau cũng từng là một người lính. Ông có 11 người con, gồm 6 trai, 5 gái và 16 cháu nội, ngoại. Trong số những người con của ông, một con trai và một con gái đã tiếp nối con đường của cha, hiện vẫn đang tại ngũ.
Nhưng trước khi trở thành người anh hùng nổi tiếng với những trận đánh khiến quân Mỹ khiếp sợ ở Trảng Lớn – Châu Thành, Bùi Văn Thuyên từng là một thiếu niên được giao nhiệm vụ hoạt động bí mật ngay trong lòng địch.
Năm 1957, Tỉnh đội Tây Ninh đưa ông vào hoạt động trong thành Tua Hai. Khi ấy mới 17 tuổi, Năm Thuyên trẻ trung, nhanh nhẹn, hoạt bát, chịu khó và thật thà. Chính những phẩm chất ấy khiến viên trung tá đồn trưởng Tua Hai có thiện cảm và nhận ông làm con nuôi. Từ đó, viên trung tá đi đâu cũng cho Năm Thuyên đi theo.
Nắm bắt cơ hội, Năm Thuyên từng bước quan sát và ghi nhớ cách bố trí bên trong thành. Ông còn đưa cán bộ chỉ huy của ta cải trang thành người dân Sài Gòn, nhận là anh ruột của mình, đến thăm. Vì là người nhà của con nuôi đồn trưởng, hai cán bộ được tự do đi lại và tham quan nhiều khu vực trong thành. Nhờ vậy, ta nắm được hệ thống đường đi, vị trí kho đạn và cách bố trí hỏa lực của địch.
Đêm 25, rạng sáng 26-1-1960, dựa trên những thông tin quý giá ấy, quân ta với hơn một tiểu đoàn bất ngờ tiến công thành Tua Hai. Trận đánh kết thúc với thắng lợi lớn: hơn 500 tên địch bị tiêu diệt, ta chiếm được kho vũ khí, thu 1.500 khẩu súng và bắt sống hơn 700 tên.
Sau trận đánh, viên đồn trưởng may mắn không bị tiêu diệt. Bắt đầu nghi ngờ Năm Thuyên, hắn cho người truy tìm ông. Nhận thấy tình hình nguy hiểm, Năm Thuyên nhanh chóng rút vào rừng theo quân chủ lực. Quân địch sau đó tổ chức vây ráp nhà ông để bắt người, nhưng ông đã an toàn.
Không lâu sau, cấp trên đưa Năm Thuyên đi đào tạo đặc công. Sau khi hoàn thành khóa học, ông trở về và tiếp tục tham gia những trận đánh ở Cầu Ván, Cầu Xe.
Đến năm 1964, khi Mỹ - Ngụy xây dựng căn cứ Trảng Lớn trên địa bàn xã Thái Bình, Châu Thành nhằm tìm diệt phong trào cách mạng, Năm Thuyên được điều về làm Xã đội trưởng Thái Bình. Từ đây bắt đầu những năm tháng ông trực tiếp đối đầu với quân Mỹ.
Dưới sự chỉ huy của Năm Thuyên, 32 chiến sĩ xã đội Thái Bình liên tục tổ chức những trận đánh táo bạo. Ông từng kể về những ngày tháng ấy: “Ngày nào cũng đánh, có ngày đánh 5 trận, đánh mệt thì xuống hầm mật nghỉ, 6 năm đương đầu với Mỹ ở Trảng Lớn - Thái Bình.”
Trong suốt thời gian ấy, ông cùng đồng đội vận dụng nhiều cách đánh linh hoạt, bất ngờ. Riêng Năm Thuyên được ghi nhận đã tiêu diệt hơn 700 lính Mỹ, 21 xe tăng và bắn rơi 7 máy bay. Ông nhiều lần được tặng bằng “Dũng sĩ diệt Mỹ”. Cách đánh của ông được đúc kết trong một phương châm giản dị nhưng táo bạo: “Bám sát nách Mỹ để đánh Mỹ.”
Trên chiến trường, Năm Thuyên không chỉ đối mặt với quân địch mà còn nhiều lần đứng trước ranh giới giữa sự sống và cái chết.
Có lần ông cùng một đồng đội đi cảnh giới thì rơi vào ổ phục kích. Người đi trước bị địch bắn hy sinh. Năm Thuyên vội tấp vào một gốc cây nhưng bị quả M72 đánh văng xa 4 mét. Khi tỉnh lại, trên người ông vẫn còn hai khẩu AK và một khẩu M79. Ba lính Mỹ lao tới, nổ súng khiến ông tiếp tục bị thương. Nhưng ngay trong khoảnh khắc nguy hiểm ấy, ông vẫn kịp sử dụng M79 tiêu diệt cả ba tên.
Vết thương quá nặng khiến ruột ông bị lòi ra ngoài, trong bụng vẫn còn mảnh đạn M72. Năm Thuyên tự móc mảnh đạn ra, tự đưa ruột trở lại rồi băng bó vết thương. Sau đó ông bò từng đoạn về căn cứ. Dọc đường, ông nhiều lần rơi vào trạng thái tưởng như không thể sống nổi. Đồng đội đều nghĩ ông đã hy sinh.
Trận ấy, Năm Thuyên bị đứt 7 khúc ruột và gãy 3 xương sườn.
Nhưng trong ký ức của người chiến sĩ từng trải qua hàng trăm trận đánh, trận khiến ông nhớ nhất vẫn là trận Suối Sóc cuối năm 1969 – trận đánh mà ông đã cùng đồng đội tiêu diệt 360 tên Mỹ.
Hôm ấy, quân Mỹ hành quân càn quét vào gần trận địa. Du kích xã nổ súng, tiêu diệt 20 tên khiến địch phải rút quân. Tuy nhiên, Năm Thuyên đoán rằng chúng sẽ quay lại. Ông lập tức cho cơ quan xã đội, những người bị thương và các chiến sĩ khác rút vào căn cứ, chỉ giữ lại tiểu đội trưởng Chiến cùng mình để chờ địch.
Hai thùng đạn được đưa tới miệng hầm.
Đúng 7 giờ sáng, quân Mỹ đổ cả một tiểu đoàn xuống Suối Sóc. Sau khi pháo bắn dọn đường, bộ binh bắt đầu tiến vào. Khi thấy lính Mỹ tập trung đông gần một “lùm chà” rồi cùng nhau trèo qua, Năm Thuyên kích quả mìn đã bố trí sẵn nhưng mìn không nổ. Không chần chừ, ông chuyển sang phương án khác, bắn một quả B40 vào gò mối.
Một ổ đại liên cùng nhóm lính Mỹ đang tụ tập phía sau gò mối bị tiêu diệt.
Tiểu đội trưởng bị thương. Trước mặt Năm Thuyên lúc này chỉ còn một mình ông tiếp tục cầm chân cả lực lượng địch. Ông ra lệnh cho Anh Chiến bò xuống hầm lấy thêm đạn để mình tiếp tục chiến đấu.
Trận đánh kéo dài từ sáng cho đến 5 giờ chiều. Năm Thuyên sử dụng 9 quả B40, cùng khẩu AK với hơn 2.000 viên đạn. Đến cuối trận, gần như toàn bộ tiểu đoàn Mỹ đã bị tiêu diệt, 360 tên Mỹ nằm lại trên trận địa.
Những năm tháng chiến đấu ấy đã để lại trên cơ thể ông những dấu tích không thể xóa nhòa. Năm Thuyên bị thương 9 lần, có năm bị thương tới 2 lần. Có những trận đánh kéo dài nhiều ngày mà bộ đội không có nổi một hạt cơm. Có khi cả tuần ông chỉ ăn sắn sống, rồi xuống sông Vàm Cỏ hái ngó lục bình ăn để tiếp tục chiến đấu.
Mỗi lần bị thương, cấp trên cho đi an dưỡng, ông lại tìm cách xin trở về đơn vị. Với ông, cuộc chiến chưa kết thúc thì người lính chưa thể rời khỏi chiến trường. Ông từng khẳng định:
“Chiến đấu đến cùng, cho đến ngày giải phóng, thà hy sinh chứ nhất định không chịu buông súng trở về”.
Sau hàng trăm trận chiến, Bùi Văn Thuyên đã tham gia trên 700 trận đánh, 9 lần bị thương và mang trên mình 72 vết thương. Những con số ấy không chỉ nói lên sự khốc liệt của chiến tranh mà còn khắc họa nghị lực phi thường của một người lính đã dành trọn tuổi trẻ cho quê hương, đất nước.
Với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu, ông Bùi Văn Thuyên – thương binh 1/4 – vinh dự được Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vào năm 1971.
Từ một chàng trai 17 tuổi bước vào thành Tua Hai bằng vỏ bọc người con nuôi của viên đồn trưởng, đến người Xã đội trưởng trực tiếp chỉ huy những trận đánh khiến quân Mỹ khiếp sợ, cuộc đời Bùi Văn Thuyên là một hành trình của lòng gan dạ, sự mưu trí và ý chí không chịu khuất phục.
Trên thân thể ông còn 72 vết thương, nhưng điều không bao giờ bị thương tổn chính là ý chí của người chiến sĩ năm nào – một người đã lựa chọn đứng ở nơi gian khổ nhất và chiến đấu cho đến ngày đất nước hoàn toàn giải phóng.



