Bài viết

BƯNG 6 XÃ: KHÚC CA BẤT TỬ TRONG LÒNG ĐẤT MẸ

Câu chuyện khắc họa cuộc chiến thầm lặng mà oanh liệt tại vùng căn cứ Bưng 6 Xã (Thủ Đức – Quận 2 cũ). Giữa mênh mông bùn lầy, dừa nước và bóng tối sào huyệt kẻ thù, tấm lòng sắt đá của những người mẹ vùng ven đã hóa thành pháo đài kiên cố nhất, chở che cho các chiến sĩ qua những giờ phút sinh tử.

TP. Hồ Chí Minh27/10/2026Thị Anh Vũ (Phường Bình Trưng)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong ký ức của những người cựu binh vùng ven Sài Gòn, Bưng 6 Xã không chỉ là một cái tên địa danh, mà là một vùng nợ nần ân nghĩa, một khúc ca bi hùng dệt nên bằng bùn lầy, nước mắt và máu. Nằm giáp ranh giữa vùng đất Quận 2 và Quận 9 cũ, dải đất Bưng 6 Xã – bao gồm các vùng Thạnh Mỹ Lợi, Bình Trưng, Phú Hữu, Phước Long, Tăng Nhơn Phú và Long Trường – hiện ra trong những năm tháng chiến tranh với vẻ hoang sơ, tịch mịch của bạt ngàn dừa nước, cây cóc kèn, ô rô và những dòng rạch chằng chịt.

Thế nhưng, đằng sau sự tĩnh lặng ấy lại là một "chảo lửa" chiến tranh khốc liệt. Nằm áp sát ngay nách Đô thành Sài Gòn, chỉ cách trung tâm chỉ huy của đối phương một con sông hay vài cây số đường chim bay, Bưng 6 Xã đứng trước tình thế vô cùng hiểm yếu: "Nơi nào gần kẻ thù nhất, nơi đó cũng là nơi thử thách lòng dũng cảm nghiệt ngao nhất." Địch dựng tháp canh dày đặc, tàu chiến gầm rú ngày đêm trên sông Sài Gòn và rạch Bà Cua, biệt kích càn quét liên miên nhằm san phẳng cái mà chúng gọi là "vùng ung nhọt ngay cửa ngõ Thủ đô". Dẫu vậy, suốt hai thời kỳ kháng chiến, Bưng 6 Xã vẫn sừng sững tồn tại như một "căn cứ lõm" kỳ diệu, một bàn đạp vững chắc cho lực lượng Biệt động Sài Gòn và Đặc công bám trụ, xuất kích.

Làm thế nào để xây dựng một căn cứ cách mạng ở một nơi đất bằng phẳng, ngập nước, lại ngay trước họng súng kẻ thù? Câu trả lời không nằm ở những dãy núi cao hay rừng sâu bạt ngàn, mà nằm ở một thứ pháo đài không thể phá hủy: Lòng Dân.

Ở Bưng 6 Xã, chuyện nuôi giấu cán bộ là một cuộc chiến sinh tử diễn ra từng giờ, từng phút. Đất bưng sền ngập theo con nước ròng - nước lớn, không thể đào hầm khô như ở vùng đất đỏ Củ Chi. Trong cái khó ló cái trí, nhân dân Bưng 6 Xã cùng du kích đã sáng tạo ra loại "hầm ngập nước" độc nhất vô nhị. Đó là những căn hầm chìm sâu dưới mương vườn hay lòng rạch, nắp hầm được ngụy trang xảo diệu bằng bợm dừa nước, rễ cây hay những vạt lục bình trôi tự nhiên.

Mỗi lần có trận càn, các chiến sĩ biệt động lại phải chui xuống hầm, ngâm mình trong làn bùn lạnh ngắt, ngậm ống trúc ngụy trang nối lên mặt nước để thở. Có những đợt địch đóng chốt kéo dài hai, ba ngày liền, người chiến sĩ phải ngâm mình dưới nước cho đến khi da thịt lở loét, nhưng tuyệt đối không một ai rời vị trí, không một tiếng động nào được phát ra.

Và bên trên nắp hầm ấy, chính là hình ảnh những "Người mẹ Bưng Sền" – những người hùng không khoác áo quân phục.

Đó là Mẹ Mười, Mẹ Tám, chị Ba... những người phụ nữ Nam Bộ hiền lành, gương mặt hằn sâu vết thời gian. Khi những toán lính ngụy rập rình kéo vào ngõ, hãnh tiến tra hỏi với họng súng đen ngòm, các mẹ vẫn thản nhiên ngồi chẻ dừa, mò cá, hay thong thả nhai trầu trước hiên nhà. Trái tim các mẹ đập liên hồi theo từng bước chân bốt đinh của địch, nhưng ánh mắt lại điềm tĩnh đến kinh ngạc. Để báo động cho cán bộ đang chui dưới hầm hay ẩn nấp ngoài gò dừa, các mẹ đã nghĩ ra hàng trăm "mật mã" đời thường: tiếng gõ guốc lọc cọc trên sàn gỗ, tiếng đập nia đuổi gà, hay lời gọi con rủ rê đi chợ đầy cố ý.

Đã có biết bao nhiêu câu chuyện đẫm nước mắt xảy ra trên dải đất này. Có những người mẹ bị địch nghi ngờ, bắt bớ, tra tấn bằng điện, bằng nước xà phòng, nhưng trước sau chỉ một câu trả lời sắt đá: "Tôi làm ruộng làm vườn, không biết cộng sản nào hết!". Có những người mẹ sẵn sàng nhìn căn nhà lá của mình bị đốt cháy rụi, chấp nhận hy sinh cả giọt máu thịt của mình để bảo vệ an toàn cho những người con cách mạng đang ẩn nấp ngay dưới chân. Đối với các mẹ, mỗi người chiến sĩ du kích, biệt động tìm về Bưng 6 Xã đều là con ruột, là giọt máu của quê hương mà các mẹ có nghĩa vụ phải chở che dù có phải đổi bằng cả mạng sống.

Không chỉ nuôi giấu, Bưng 6 Xã còn là một "trạm trung chuyển" vũ khí và lực lượng huyền thoại. Những người chị, người cô tuổi đời còn rất trẻ đã trở thành những giao liên mưu trí. Ban ngày, họ quẩy gánh dừa nước, chèo xuồng ba lá chở khóm, cá tôm ra chợ. Nhưng bên dưới khoang thuyền ngụy trang ấy lại là hàng trăm cân đạn dược, thuốc bồi, tài liệu mật được vận chuyển âm thầm qua các trạm kiểm soát gắt gao của địch để tuồn vào nội đô. Ban đêm, dưới làn sương mờ mịt trên dòng sông Sài Gòn, chính họ lại chèo xuồng đưa các toán đặc công Z23, Z22 vượt sông, áp sát các mục tiêu như kho Cát Lái, cầu Rạch Chiếc, hay căn cứ Tân Cảng.

Chính từ vùng đất Bưng 6 Xã bạt ngàn dừa nước này, những đòn đánh chớp nhoáng, xuất quỷ nhập thần của Biệt động Sài Gòn đã giáng xuống đầu thù, làm rung chuyển cả bộ máy chiến tranh của đối phương ngay tại sào huyệt của chúng. Và cũng chính từ đây, trong mùa Xuân đại thắng 1975, dải đất Bưng 6 Xã đã ôm trọn những cánh quân tiến công, mở đường cho xe tăng rầm rập tiến qua cầu Rạch Chiếc, xông thẳng về Dinh Độc Lập trong niềm vui vỡ òa của ngày toàn thắng.

Chiến tranh rồi cũng qua đi. Bưng 6 Xã ngày nay đã khoác lên mình diện mạo mới với những cây cầu bê tông kiên cố, những đại lộ thênh thang và những khu đô thị hiện đại mọc lên bên dòng sông Sài Gòn. Thế nhưng, dưới lớp phù sa cổ và những gò dừa nước năm xưa, câu chuyện về Bưng 6 Xã vẫn còn nguyên giá trị. Đội quân năm ấy có người còn, người mất; những bà mẹ Bưng Sền năm xưa nay phần lớn đã về với đất mẹ. Nhưng khúc ca về Bưng 6 Xã – khúc ca về một "trận địa lòng dân" kiên trung, bất khuất – sẽ mãi mãi khắc sâu vào lịch sử, như một biểu tượng bất tử về mối tình quân dân thắm thiết, dệt nên trang sử vàng chói lọi của vùng đất Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh anh hùng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn