Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

BƯỚC KHỞI ĐẦU KHÓ KHĂN

Giữa cảnh quản thúc khắc nghiệt ở Ba Tơ, người chiến sĩ cách mạng âm thầm gây dựng tổ chức, in tài liệu Việt Minh trên chiếc thuyền nhỏ giữa sông Liên và mở rộng cơ sở xuống đồng bằng, lên miền núi. Cuộc gặp gỡ với tù trưởng Già Kiêu thắp lên hy vọng đoàn kết Kinh – Thượng chống Pháp. Trong khi đó, nội bộ tù an trí cũng nảy sinh thử thách khi xuất hiện những phần tử dao động, cơ hội như Trần Cừ. Tất cả tạo nên bức tranh vừa âm thầm, vừa quyết liệt của quá trình gây dựng lực lượng, chuẩn bị cho m

Lai Châu03/03/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ở Ba Tơ, sau buổi trình diện, tôi thường lân la đến nhà từng anh gọi chuyện, bàn việc làm ăn sinh sống để tìm hiểu tư tưởng xu hướng từng người. Sau nhiều lần trò chuyện, tôi nhận thấy các anh hoạt động trong phong trào "ba sáu, ba chín" như anh Đề Xi, Nguyễn Niên, Nguyễn Húc, Phạm Xuân... rất dễ thông cảm. Trong lòng các anh ngọn lửa cách mạng còn đang âm ỉ. Các anh kiếm sống bằng việc đưa đò, trồng rau, đánh cá và khi cần sẵn sàng chiến đấu hy sinh. Các bậc đàn anh hoạt động trong phong trào "ba mươi, ba lăm" là những người có kiến thức rộng, trải qua thử thách trong nhà tù đế quốc. Phần lớn trong số đó có anh làm thuốc, làm ruộng giữ trọn vẹn tư cách đạo đức người cộng sản. Một số rất ít tỏ ra mệt mỏi, chuyển sang buôn bán và có tư tưởng an cư lập nghiệp lâu dài. Có người hám lợi buôn một bán mười gây ảnh hưởng xấu đối với đồng bào Kinh, Thượng quanh vùng, khiến bọn quan lại, lính tráng coi thường, xúc phạm uy tín người cộng sản. Điều đáng buồn là vì quan niệm sống, cách suy nghĩ khác nhau nên chẳng ai phục ai, thậm chí còn chê bai trách móc nhau.


Những ngày tiếp sau, chiều chiều tôi đi bộ ra chơi ở các nhà dân quanh vùng. Phần lớn họ không phải là người địa phương mà là dân đến từ tứ xứ Mộ Đức, Đức Phổ, Nghĩa Hành trong đó có cả người tham gia phong trào "ba mươi, ba mốt", mãn hạn tù về họ không muốn sống trong vòng o ép của bọn hào lý, bỏ làng lên đây tìm miền đất sống. Một số còn nuôi tư tưởng ẩn dật chờ thời cơ, một số khác đã nguội lạnh ý chí cách mạng, không còn quan tâm đến thời cuộc. Số còn lại là binh lính, cai đội, viên chức của nha kiểm lý đã về hưu ở lại đây lập nghiệp. Bọn này phần lớn là lái buôn, một số tên nhảy ra tranh chức phó tổng, cai quản các buôn làng người Thượng. Bọn chúng ra sức áp bức, bóc lột nên gây căm ghét, oán hận trong đồng bào người Thượng. Cuộc sống của đồng bào Thượng vô cùng cực khổ. Quanh năm bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, cày xới trên mấy mảnh ruộng bậc thang, trồng tỉa trên mấy lưng chừng núi mà thóc lúa, sắn ngô vẫn không đủ thuế má, nộp cống cho bọn cường hào, tù trưởng. Mùa hè cho chí mùa đông, đàn ông chỉ có cái khố rách, đàn bà chỉ có cái váy đụp và chiếc yếm che thân. Những ngày đi xâu phải ăn sắn, ngô trừ bữa và chịu đòn roi của bọn lính đồn. Vào những năm "ba chín, bốn mươi" đồng bào Thượng theo phong trào "Nước xu đỏ" nổi dậy chống Tây. Bọn Pháp đàn áp dã man, tàn bạo, đốt trụi buôn làng. Cuối cùng đồng bào phải chịu quy phục. Vài tù trưởng gan dạ cùng đồng bào chạy lên núi Bùi Hui - Cao Muôn lập làng mới chống Tây.


Tất cả những điều hiểu biết về anh em an trí và cuộc sống người dân quanh vùng cứ nung nấu mãi trong tôi một ý nghĩ: "Phải làm thế nào để tập hợp lực lượng, thống nhất ý chí, hành động, giữ lòng trung thành với Đảng, với cách mạng và uy tín với đồng bào, chờ thời cơ họạt động". 


Để giải quyết cuộc sống trước mắt tôi cùng anh Khoách thuê mấy sào ruộng cấy hai vụ để có đủ thóc ăn, bàn với anh Duân xây lò nấu nước mắm. Vì giá rẻ, chất lượng nước mắm tốt, chẳng bao lâu bà con quanh vùng đến mua rất đông. Cuộc sống tạm ổn định. Có tiền, anh Duân đặt mua tờ báo tuần bằng tiếng Pháp xuất bản ở Sài Gòn. Báo đến Ba Tơ hơi muộn, nhưng cũng giúp chúng tôi theo dõi được tình hình chiến sự xảy ra trên thế giới, đặc biệt là cuộc tiến công của phát xít Đức vào Liên Xô. Ngày ấy tôi như thông tin viên truyền lại những tin tức trong báo với anh em. Nhớ những lần báo tin phát xít Đức huy động hàng trăm sư đoàn mở cuộc tiến công theo hướng Mạc Tư Khoa, anh em lặng im không ai nói với ai một lời, trong tâm trạng lo lắng như chính Tổ quốc mình đang bị phát xít Đức tiến công. Cho đến một sáng tháng giêng năm 1942, chúng tôi, những người cộng sản Việt Nam đang bị giam lỏng trong thung lũng Ba Tơ, thở phào nhẹ nhõm khi biết tin Hồng quân Liên Xô mở cuộc phản công đẩy lùi phát xít đức hàng trăm cây số, rồi giam chân chúng giữa mùa đông tuyết lạnh. Thắng lợi của Liên Xô như ngọn gió lành xua tan tư tưởng bi quan lo lắng, mang đến lòng tin vào thắng lợi của cách mạng. Không khí hồ hởi lan tràn trong anh em tù an trí. Thắng lợi của Liên Xô như một tác nhân kích thích tôi quyết tâm xây dựng lại cơ sở cách mạng ở Ba Tơ. Thời gian này bọn quan đồn kiểm soát những người an trí chặt chẽ hơn. Trong những buổi trình diện, chúng xoi mói nhìn vào mặt từng người dò tìm những phản ứng.


Sau những buổi làm việc vất vả để kiếm sống trở về, tôi suy nghĩ cố tìm ra những sơ hở có thể lợi dụng được trong sự kiểm soát chặt chẽ của kẻ thù. Cuối cùng, tôi nhận thấy đồng bào Kinh ở đầy có mối giao lưu kinh tế rộng rãi với miền xuôi. Hàng ngày có chuyến xe đò lên xuống mang đến và mang về bao nhiêu tin tức. Cách Ba Tơ một thôi đường còn một số chính trị phạm hoạt động từ những năm "ba mươi, ba mốt" nay nằm im, nhưng xem ra còn có hoài bão, chưa mất hẳn lòng tin. Tuy nhiên không phải có ít khó khăn. Mà cái khó lại ở trong lòng chính những người tù an trí. Tiếp xúc với một số anh em tôi đã nhận ra điều ấy. Có anh bảo:

- Năm "bốn mươi" khi tôi lên đây chỉ mới có con đường ô tô nối liền quốc lộ một với châu lỵ Ba Tơ, lên Giá Vụt. Vậy mà vài năm nay bọn Pháp đã mở con đường từ đây sang Com-Plông và đường vòng lên phía bắc nối với đồn Gi Lăng huyện Sơn Hà. Bọn nó muốn biến Ba Tơ - Gi Lăng thành căn cứ chống Nhật, giam lỏng tù an trí trong cái nơm nầy cho đến chết.

- Ở đây không cựa quậy gì được đâu, rồi cũng đến chết sốt rét thôi, và lúc cần chúng nó lia cho mấy băng đạn, thế là nằm lại với giun, ở đây thì làm sao liên lạc được với cơ sở miền xuôi, mà không có cơ sở, không có quần chúng, thì lấy đâu ra sức mạnh. Thôi thì đành lo việc làm ăn, giữ mình cho trọn nghĩa với Đảng, với dân.

Tôi ngồi nghe, lòng buồn và nghiệm ra một điều: "Thì ra thằng địch lấy sự buông lỏng làm cái nơm úp cho anh em mình rồi đục khoét cho ruỗng dần ý chí chiến đấu. Ghê gớm thật! Độc địa thật!" Tôi muốn nói với anh em: "Sao ta không giữ mình cho trọn nghĩa với Đảng với dân bằng cách xây dựng cơ sở, tìm cách liên lạc với miền xuôi gây dựng lại phong trào, biến ngọn lửa nhỏ thành đám cháy lớn". Nghĩ vậy nhưng tôi cắn chặt môi không để bật ra thành lời vì sợ anh em nghĩ rằng mình mới lên chưa nắm tình hình đã lên mặt dạy đời và còn ngại anh em cho là loại "ngựa non háu đá". Nhưng ngày tháng trôi qua, cái ý định phải xây dựng một tổ chức cơ sở Đảng, vận động cách mạng đốt cháy lòng tôi và đến lúc này không kìm giữ được nữa. Tôi trao đổi với anh Khoách. Chúng tôi nhất trí và kết nạp thêm anh Phạm Sanh. Để giữ bí mật và tạo thuận lợi cho công tác tuyên truyền vận động, chúng tôi lấy tên "Ủy ban vận động cách mạng". Cuộc họp chi bộ đầu tiên tiến hành trên gộp đá giữa lòng suối Nước Nen. Sau khi thống nhất nhận định tình hình, chúng tôi đi đến quyết định: tạo mọi điều kiện để gây mối quan hệ tốt giữa anh em tù an trí với các thanh niên địa phương và binh lính trong đồn. Tranh thủ tình cảm của nhân viên làm việc trong Nha kiểm lý đối với tù an trí, mà người trước tiên là thừa sở, đồng hương với anh Duân, đứng ra lập hội đá bóng để tạo cơ hội mở đầu cho các cuộc tiếp xúc. Từ đó chiều chiều trên sân bóng diễn ra những cuộc tranh tài. Có lúc là đội bóng nhà binh đá với liên quân thanh niên và tù an trí. Có lúc là đội tuyển của châu lỵ Ba Tơ đá với một đội bóng từ nơi khác đến. Kẻ đá người xem hò reo ầm ĩ, không khí vui vẻ hẳn lên. Qua những cuộc tiếp xúc ấy, quan hệ giữa binh lính và thanh niên địa phương với tù an trí ngày càng được cởi mở. Những mặc cảm, hố ngăn cách trước đây dần được san lấp. "Ủy ban vận động cách mạng" tiến hành thuận lợi chừng ba, bốn tháng. Trong một lần kiểm điểm trách nhiệm cá nhân, chúng tôi phê bình anh Phạm Sanh về việc đánh cơ tướng ăn tiền gây dư luận xấu trong quần chúng, coi đó như một trò bài bạc. Anh Sanh công nhận, nhưng không chịu sửa chữa, buộc chúng tôi phải đình chỉ công tác, đưa ra khỏi chi bộ. Trong thời gian này, tôi có mấy lần xuống Trường An gặp cụ Trần Toại, một chính trị phạm tham gia phong trào "ba mươi, ba mốt", nay đã già yếu. Qua chuyện trò tôi thấy cụ vẫn ưu thời mẫn thế, thiết tha với sự nghiệp cách mạng, nhưng e ngại mình tuổi già sức yếu. Sau khi nghe tôi trình bày những điểm cơ bản trong Nghị quyết tám của Trung ương. Cụ nóị:

- Tôi nay tuổi già, sức yếu, lại bị căn bệnh lao phổi hành hạ vào ngày đông gió rét. Tôi chỉ còn mong đợi các anh, lớp người trẻ cố gắng xây dựng lại phong trào. Được vậy tôi xin giới thiệu cùng các anh một con người tuyệt đối trung thành với sự nghiệp của Đảng. Đó là anh Nguyễn Tiểu.


Theo lời ông kể thì anh Tiểu nằm trong số quần chúng đi biểu tình trong phong trào cách mạng năm 1930 - 1931, bị bắt tù một thời gian rồi được tha về. Năm 1936 - 1937, anh có tham gia hoạt động trong Mặt trận Dân chủ Đông Dương, nhưng từ năm 1939 thì mất liên lạc. Anh là một cố nông, có vợ và hai con, cuộc sống vô cùng cực khổ. Cụ Toại là người tương trợ giúp đỡ anh vào những tháng giáp hạt, những ngày đứt bữa. Hôm đến thăm, anh đưa tôi vào cái lều làm bằng mấy thân tre bắt chéo vào cành mít. Bên trên lợp tạm mấy tấm tranh để che mưa nắng, bốn phía kẹp rạ thay tường. Anh Tiểu nói với tôi những lời tâm huyết. Giọng anh xúc động, ngắt quãng:

- Mấy năm nay tôi ở đây không xây dựng được phong trào. Từ ngày bọn Pháp lập nhà giam Ba Tơ rồi chuyển thành căng an trí, đưa anh em tù chính trị lên đây. Tôi mấy lần hỏi cụ Giáo1 (Cụ Trần Toại trước dạy học, dân quen gọi cụ Giáo. Đầu năm 30 tham gia Tỉnh ủy Quảng Ngãi, được phái xây dựng phong trào Phú Yên và làm bí thư Tỉnh ủy đầu tiên) thì biết anh em vẫn nằm yên chưa ai đứng ra xây dựng tổ chức. Thật lòng tôi buồn lắm. Chả lẽ Pháp rồi bây giờ thêm Nhật nhảy vào mà dân ta chịu mãi cảnh sống cơ cực thế này sao? Hôm nay gặp anh - Anh Tiểu ngước nhìn tôi, hai giọt nước mắt lăn trên đôi gò má hốc hác đen sạm, rồi nói tiếp - Tôi có gì để mất đâu hả anh? Nhà cửa rách nát, vợ con nheo nhóc, sống hôm nay chưa biết ngày mai cho cái gì vào miệng, nên tôi nguyện đem hết lòng, hết sức phục vụ cách mạng. Hiềm một nỗi, tôi dốt nát, ít học hành liệu giúp được gì cho các anh?

- Anh có hay đi đây đó không? - Tôi hỏi.

- Đi đâu hả anh?

- Như đi xuống Nghĩa Hành, Mộ Đức, Sông Vệ, Thu Xà?

- Không - Anh trả lời - Lam lũ quanh năm mà không đủ miếng ăn, tôi lấy tiền đâu đi đây đi đó - Anh nhìn tôi dò hỏi rồi tiếp - Nhưng nếu cách mạng cần thì tôi quyết làm bằng được, anh tin tôi.


Những lần gặp khác cụ Toại đã trao lại cho tôi, lớp con cháu của cụ, những kinh nghiệm thành bại trong suốt quãng đời hoạt động của mình. Thế là tôi đã tìm được một người cố vấn nhiều kinh nghiệm và một đồng chí liên lạc tin cậy.

Tháng 6 năm 1942 địch đưa anh Huỳnh Tấu từ nhà lao Buôn Ma Thuột lên an trí ở Ba Tơ. Để anh Tấu nghỉ yên một thời gian nhằm đánh lừa sự theo dõi của địch, sau đó chúng tôi liên lạc với nhau. Ủy ban nhân dân cách mạng được củng cố gồm tôi, anh Khoách, anh Tấu, do anh Tấu làm bí thư. Tháng 12 năm 1942 thêm anh Võ Phấn và Nguyễn Cừ vừa mãn hạn ba năm tù ở nhà lao Gi Lăng, địch đưa lên đày an trí. Thế là Ủy ban vận động cách mạng có 5 người.


Mãi đến lúc nầy anh Huỳnh Tấu mới khui cái "kho tài liệu" anh mang từ Buôn Ma Thuột về, gồm chương trình Việt Minh, tài liệu huấn luyện các đoàn thể quần chúng, và bản tóm tắt Nghị quyết tám của Trung ương. Nhớ hôm mở "kho tài liệu", anh Tấu nói:

- Chỉ có chừng nầy mà mình phải mất nửa năm mới chuẩn bị xong. Tháng nào cũng khai "ma lách" vài ngày, trốn "các vệ" để làm cái việc "trọng đại" này.

Anh Tấu lôi cái bình đụng nước uống bằng ống tre hai đáy, đục lớp xi gắn bên trong rồi lấy ra mấy tờ pơ-luya to bằng bàn tay, nét chữ nhỏ li ti, đưa cho tôi, nói tiếp:

- Hôm về thằng lính áp giải thấy mình xách theo cái ống tre, nó nói mỉa "anh đi tù bảy tám năm về, được cục vàng to ghê, tha hồ mà cất nhà lầu, mua ruộng". Mình chỉ cười, nghĩ thầm "có mày ngu mới không biết, cái này còn quý hơn vàng, có thể mua được cả đất nước". Ủy ban vận động cách mạng họp chủ trương tích cực xây dựng cơ sở ở huyện đồng bằng, tìm liên lạc với thủ lĩnh người Thượng có tinh thần chống Pháp, xây dựng lực lượng du kích, chuẩn bị căn cứ chống Pháp dựa vào đồng bào Thượng ở núi cao. Sau khi thống nhất chủ trương, chúng tôi phân tích thêm:

- Cách mạng Việt Nam khó giành được thắng lợi hoàn toàn một khi chủ nghĩa phát xít chưa bị đánh gục. Cuộc phản công của Hồng quân Liên Xô báo hiệu nguy cơ chủ nghĩa phát xít bị tiêu diệt đã rõ. Điều đó gieo lòng tin cho anh em lâu nay có tư tưởng chờ thời, vì họ hiểu rằng một khi chủ nghĩa phát xít bị tiêu diệt là cơ hội thuận lợi để cách mạng ở các nước thuộc địa đứng lên lãnh đạo quần chúng đạp đổ ách thống trị.

- Hiện nay bọn Nhật ở Đông Dương còn mạnh, nhưng là cái mạnh của con hổ bị sa lưới, lực lượng ta yếu nhưng là cái yếu của người đang độ phát triểp, dám chấp nhận sự hy sinh để giành độc lập, tự do cho đất nước.

- Chúng ta dựa vào sức mình là chính, đừng trông chờ vào quốc tế viện trợ. Nếu điều ấy xảy ra càng tốt. Nhưng trước mắt có thể thấy Hồng quân Liên Xô khó vào đến Đông Dương, có chăng chỉ đến Hoa Bắc. Khi ấy sức mạnh của Hồng quân Trung Hoa tăng lên gấp bội và tất nhiên có tác động đến tinh thần của đồng bào, đồng chí trong cả nước ta, tạo thuận lợi cho việc vận động xây dựng phong trào ở cơ sở.

- Hiện nay ta có khu du kích Bắc Sơn. Uy tín của Đảng ngày càng lớn, cơ sở Việt Minh đang xây dựng, phát triển nhanh chóng ở nhiều tỉnh phía bắc. Đó cũng là thuận lợi để chúng ta xây dựng cơ sở Việt Minh và các đoàn thể quần chúng.


Những ý kiến trên càng củng cố trong chúng tôi lòng tin vào sự thành công của cách mạng. Nhưng để phổ biến nhanh chóng, rộng khắp chương trình điều lệ của Mật trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc cần tổ chức bộ phận ấn loát và gây quỹ nhằm đảm bảo những điều kiện vật chất cho việc hoạt động. Vì là người đã từng làm công việc in ấn tài liệu của Đảng từ những năm 1938 - 1939 nên anh em phân công tôi lo liệu. Khó khăn trước mắt là ở đây thường hai ba anh sống chung nhà, nhưng chưa sinh hoạt chung trong cùng tổ chức. Mỗi lần có người thân lên thăm ai đó, anh em khác phải sang ngủ nhờ nhà bạn. Hàng ngày chúng tôi thường hay qua lại thăm viếng nhau. Điều kiện ấy làm sao giữ được bí mật. Chúng tôi trao đổi mãi rồi cuối cùng cũng chẳng tìm ra được cách giải quyết. Ngày ấy tôi gầy yếu, thường hay sốt, ho vì viêm họng. Anh em bàn nhau phao tin tôi bị lao phổi. Nhiều người khuyên tôi làm đơn xin được về nhà chữa bệnh. Trước mắt phải sống cách ly để khỏi lây lan cho người khác. Tôi mua một chiếc thuyền, ngày ngày sống lênh đênh trên dòng sông Liên để được hít thở không khí trong lành chờ ngày được tha bổng sẽ về nhà chữa bệnh. Từ đó tôi sống trên chiếc thuyền có mui che kín đáo. Ngày ngày trừ những giờ làm việc ngoài đồng thỉnh thoảng tôi mới ghé về nhà anh Duân, nhưng giữ ý cách ly nhau khi chuyện trò. Tôi cùng anh Phân, anh Cừ chèo chống, cho thuyền vượt thác xuống ghềnh thành thạo trên đoạn sông từ Ba Tơ xuống dốc Mốc. Những lần đi lại trên dòng sông này chúng tôi đã tìm được một vũng nước sâu, lặng nằm ngay sau đồn địch. Tôi neo thuyền sát vực dốc đứng, bên trên lau lách che kín, lính đồn không nhìn thấy. Thuyền đi lại trên sông theo lạch nước bên ngoài, chẳng ai thèm để ý đến con thuyền nhỏ nép mình trong vũng nước sâu. Qua mấy tuần nghe ngóng không thấy binh lính, bọn nha lại, anh em nghĩ gì đến việc tôi ra ở sông trên chiếc thuyền. Tôi bắt đầu tính việc in tài liệu. Giấy mực thì mỗi lần vợ tôi lên thăm có mang theo cho một ít, tôi ky cóp lại, cộng với số giấy của các anh em khác mua ở cửa hàng tạp hóa cũng tạm đủ. Cái khó là tìm đâu ra đông sương bây giờ. Tôi xuống gặp anh Tiểu hướng dẫn kỹ cách quan sát thái độ người bán, lý do hỏi mua, cốt sao đừng để họ có tí nghi ngờ nào. Với anh Tiểu làm được việc này là khó, vì lâu nay anh có tiếp xúc buôn bán bao giờ đâu. Anh ngồi nghe tôi nói, vẻ suy nghĩ, một lúc sau, anh nhìn tôi, giọng cả quyết:

- Việc này đối với tôi là khó. Nhưng anh yên tâm, tôi cố làm bằng được.

Anh Tiểu lặn lội đến phố Hoa kiều ở Thu Xà tìm được cửa hàng của một người Hoa. Ông chủ là người vui vẻ, vô tâm, cốt bán được hàng, không cần biết dùng vào việc gì. Mua được đông sương rồi, tôi bắt tay vào việc. Máy móc trong "nhà in" của tôi chỉ có cái ấm đất để nấu đông sương, cái bàn cờ làm khuôn đổ đông sương, mực tím và mấy tập giấy. Tôi nhìn những sản phẩm mình in ra "Chương trình Mặt trận Việt Minh", "Lời hiệu triệu của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc" mà sung sướng muốn reo lên. Tôi dựa lưng vào mạn thuyền, ngắm nhìn không chán những hàng chữ màu mực tím sắp hàng thẳng tắp trên những trang giấy trắng mà hình dung cảnh đồng chí, đồng bào quê tôi sung sướng đến nghẹn ngào khi đọc những lời tâm huyết trong tuyên ngôn của Mặt trận Việt Minh: "Hỡi đồng bào! Từ khi lập quốc, xét lịch sử nước ta chưa bao giờ nhọc nhằn đau khổ như lúc nầy. Nhưng chúng ta có cam tâm làm nô lệ mãi không? Chúng ta có chịu cho quân sài lang đế quốc giày xéo lên thân ta, đẽo khoét dân ta đến tận xương tuỷ không? Trăm lần không!


Một dân tộc có trên bốn nghìn năm lịch sử, trước sau bị Trung Quốc đô hộ đến mười thế kỷ mà vẫn không bị diệt vong, một dân tộc đã đẻ ra những vị anh hùng cứu quốc như Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung quyết không chịu làm vong quốc nô mãi"...

Tôi làm việc suốt mùa hè, đến mùa mưa, nước lũ đổ về ào ào tràn qua thác. Con thuyền chồng chềnh không viết, không in được, cũng là lúc công việc vừa xong. Từ đây, tài liệu theo chân anh Tiểu và những người thân lên thăm chúng tôi về khắp các vùng trong tỉnh: Trường An, Mộ Đức, Đức Phổ, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, các miền phía đông, phía tây Sơn Tịnh, Bình Sơn... Tài liệu của Đảng như những mạch nước ngầm tự tìm dòng chảy trong lòng đất để rồi hội tụ thành con suối, con sông và cuối cùng chảy vào đại dương mênh mông. Chỉ một thời gian, các tổ chức cứu quốc được thành lập, phong trào hoạt động bí mật có cơ sở hầu khắp các vùng trong tỉnh.


Mùa xuân năm 1943, trước và sau Tết Âm lịch, vợ con, người thân, họ hàng và một số cán bộ nòng cốt ở cơ sở cũng trà trộn vào đây để lên thăm chúng tôi. Trong vài ngày họ ở lại Ba Tơ, chúng tôi tranh thủ bồi dưỡng phương pháp tuyên truyền, vận động xây dựng các tổ chức cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh. Hết hạn thăm nuôi, mỗi người ra về đều mang theo một hành trang nhỏ về kinh nghiệm tổ chức xây dựng phong trào. Riêng việc gây cơ sở trong vùng đồng bào Thượng ở núi cao, lâu nay có tư tưởng chống Pháp thì chưa làm được, mặc dù chúng tôi đã giác ngộ một số quần chúng tốt trong người Thượng ở mấy buôn làng quanh Ba Tơ. Nhưng khi nhờ họ đưa đường lên các vùng núi cao thì họ lắc đầu "ú hua! ú hua" (không dám! không dám). Hỏi kỹ chúng tôi mới hiểu họ sợ bọn địch bắt bỏ tù, và các tù trưởng thủ lĩnh bắt tội nặng nếu sào huyệt bị lộ.


Tôi tìm xuống cụ Trần Toại. Cụ Toại giới thiệu tôi với anh Giàu, một nông dân người Thượng thường làm thuê và được gia đình cụ Toại giúp đỡ lúc ngặt nghèo. Cuộc sống gia đình anh hoàn toàn ngược với tên gọi của anh. Sống giũa vùng rừng núi mà nhà dột trước dột sau. Quanh năm quấn trên mình cái khố rách, ngày mưa rét thì ngồi bên bếp lửa khoác thêm tấm đồ trên vai. Tôi đem đên cho anh vài bộ quần áo cũ, ít thuốc men. Khi đã quen thân, tôi ngỏ lời nhờ anh đưa tôi lên Giá Vụt gặp Già Kiêu, một tù trưởng nức tiếng chống Pháp trước dây. Anh Giàu vui vẻ nhận lời. Trở về tôi bàn với anh Khoách, anh Phấn lo liệu việc trá hình trình diện với lính gác cổng, tôi vắng mặt, rồi chuẩn bị hành trang lên đường.


Sau vụ thu hoạch vào tháng ba âm lịch là tết cổ truyền của đồng bào dân tộc Hre. Tết kéo dài một tháng. Thường là đầu tháng đến cuối tháng, hoặc từ đầu tuần trăng này đến đầu tuần trăng sau. Chuẩn bị tết, nhà nghèo cũng có sáu bảy ché rượu cần, mất bốn, năm yến gạo nếp để gói bánh. Nhà giàu đâm trâu, nhà nghèo cũng giết heo. Họ thăm viếng ăn chơi, ca hát, suốt ngày đêm vang tiếng cồng chiêng. Những thù hận, xích mích trong năm đều được đưa ra phân xử trong những ngày vui tết. Họ tháo những gút dây ghi hận thù để chứng tỏ lòng mình đã thanh thản, coi nhau như anh em. Tết cũng là mùa cưới vợ, chồng. Tùy theo giàu nghèo, xinh đẹp mà người ta đặt tiền cưới bằng nồi đồng, ché rượu, chiêng cồng, bò trâu, heo gà. Khi mọi thỏa thuận đã xong xuôi người ta chào nhau "ú ca các lé" (không còn phạt vạ gì nữa).


Tôi và Giàu lưng mang gùi, vai đeo túi trong đựng vải vóc, kim chỉ, áo quần may sẵn, ít thuốc chữa bệnh, vài ba chai rượu "vân cự" để che mắt lính tuần. Nếu gặp chúng tôi, tôi có thể nói dối là lái buôn đi bán hàng. Chúng tôi vượt Mang Đốc, qua đèo Trà Nô. Đến đây không con sợ gặp lính tuần, chúng tôi ngồi lại dưới bóng cây Kơ-nia giở cơm gói ra ăn. Ăn xong lại tiếp tục đi. Chúng tôi đi giữa tiếng cồng chiêng âm vang của núi rừng Tây Nguyên mừng lễ hội. Gần chiều chúng tôi lội qua sông Giá Vụt, dừng lại tắm rửa, rồi đặt chân lên vùng "đất cấm" của tù trưởng Già Kiêu.

Tôi hỏi Giàu:

- Gần đến làng Già Kiêu chưa anh?

Giàu chỉ tay ra phía trước trả lời:

- Qua cái đồi này, lội ngược con suối, rồi leo thêm hai dốc nữa, chừng nào mồ hôi ướt lưng mới tới buôn ngoài. Đến buôn ngoài tôi gặp ngay một thanh niên trạc tuổi hai lăm, cao lớn vạm vỡ, mình trần, tóc cắt ngang vành tai, mày rậm, mắt sáng quắc, ngang bụng nịt một thắt lưng to bản bện bằng dây thừng quanh lưng đeo ná, ống tên và một dao rừng ánh nước thép. Theo sau là mấy thanh niên cầm mác, mang ná và ống đựng tên. Giàu bước lên trao đổi gì với người thanh niên. Một lúc anh ta tiến về phía tôi, nhíu đôi lông mày rậm nhìn, vẻ ngờ vực. Giàu giải thích:

- Đây là người cộng sản anh em, an trí Ba Tớ muốn lên đây gặp cha mày bàn chuyện đánh Tây giành lại con nước cái rừng, bỏ cái thuế cái xâu đó.

Nghe xong anh nói to bảo tôi:

- Mầy đánh Tây, cần lúa gạo, thịt rượu gì lên đây cha tao cũng cho. Còn mộ binh ở đây không được đâu. Qua nhiều mùa rẫy từ hồi cha tao còn trẻ, nay đã già mà Tây cũng không lên đây được. Ông trời cho chúng tao xuống núi giết hết bọn Tây thì giữ núi này mà sống không đi xâu, nạp thuê cho Tây đâu. Nghe anh Giàu dịch lại, tôi mỉm cười:

- Người cộng sản không cần cái gạo, cái thịt, cái rượu đâu, mà cần bàn với Già Kiêu hợp sức đánh thằng Tây.


Anh thanh niên quay lại dặn ba người cầm mác đứng canh gác chúng tôi, còn anh và hai người nữa vào bên trong. Họ đi rồi, tôi đứng lại nhìn ra chung quanh thấy thế núi thế khe ở đây thật hiểm trở. Kẻ thù đến đây làm sao đoán được, trong cánh rừng già kia cái gì đang đợi chung: một giàn thò, một bãi chông hay nước từ trên cao bất ngờ đổ xuống con suối cạn, đất đá cây rừng cuốn phăng đi hàng trăm tên lính! Tôi mỉm cười nhớ lại chiến thuật "sa nan úng thủy” của vị tướng tài Cao Thắng mà ngày nào tôi đọc thấy trong cuốn sách viết về cuộc chiến đấu chống Pháp của cụ Phan Đình Phùng. Tôi thầm phục tài tổ chức chống Tây của người tù trưởng già này.

Khi ba người trở lại, anh thanh niên gửi Giàu ở bên ngoài, rồi đưa tôi đến gặp Già Kiêu. Già Kiêu đứng ở đầu tra1 (Đầu hồi nhà) đợi khách. Bước vội lên mấy bậc thang, anh thanh niên đến trước mặt Già Kiêu.

- Thưa cha! Thằng tà-pọt (da trắng) này là người cộng sản an trí Ba Tơ lên đây gặp cha bàn đánh Tây. Bây giờ tôi mới biết anh ta là người con trai tâm phúc của tù trưởng. Già Kiêu niềm nở mời khách vào nhà. Tôi ngồi xuống chiếc chiếu hoa trải sẵn. Trong lúc Già Kiêu thổi bùng ngọn lửa, hâm nóng ấm nước chè xanh rồi rót vào hai cái bát sứ, tôi đảo mắt nhìn quanh. Trong gian nhà rộng, nồi đồng đủ cỡ nhỏ to sắp chồng lên nhau từ sàn lên đến mái. Trên đầu nằm của Già Kiêu hàng chục bộ chiêng, ché sắp thẳng hàng. Ở đầu tra, trên hai sợi song mây mắc đầy những bộ sừng trâu, răng hổ, răng lợn rừng và xương đầu trâu trắng hếu. Nhìn cách trang trí trong nhà cũng đủ biết vị tù trưởng già này là người giàu có và đầy thế lực đối với dân quanh vùng. Già Kiêu mời tôi uống nước rồi mở đầu câu chuyện. Ông nói tiếng Kinh rất sõi, thỉnh thoảng mới chêm vài tiếng dân tộc, giọng trầm, đục, chậm rãi:


- Mấy năm nay biết Tây bắt người cộng sản lên giam ở Ba Tơ, nhưng tao chưa gặp mặt. Nay có người an trí tà - pọt lên đây, cái bụng tao mừng lắm. Tao muốn nghe mày nói chuyện người cộng sản đánh Tây như thế nào. Liệu có thắng được nó không? Dân vùng này mấy lần nổi dậy đánh đồn. Nhưng cái ná không giết được chúng nó nhiều. Tây đem lính về đốt buôn phá rẫy. Dân phải bỏ làng kéo nhau lên núi cao. Ở đây không có muối, thiếu cái cuốc, cái rựa làm rẫy, cái nồi rang gạo, mảnh vải làm khế, cây kim sợi chỉ vá may. Có đứa sợ Tây, sợ đói ra hàng. Mấy lần Tây đồn, kiểm lý Ba Tơ nhắn lên mời tao ra làm chánh tổng, nhưng tao không nhận. Tao ghét thằng Tây, ghét quan ta, không muốn nhìn mặt bọn nó. Bây giờ mày lên đây ở lại lâu lâu, bày cho cách đánh Tây.


Tôi ngồi nghe, cảm thông với tấm lòng người tù trưởng già khao khát tự do.

Tôi nói:

- Từ khi Tây chiếm nước mình, người Kinh, người Thượng đều bị nó bắt đi xâu nhiều, nộp thuế nặng. Kêu xin thì nó đánh, chống lại thì nó giết, bắt tù. Người cộng sản chúng tôi đánh Tây là để giành lại đất nước, để người Kinh, người Thượng đi lại làm ăn, giúp đỡ nhau. Nước mình, mình giữ, đất mình, mình làm ăn, không ai áp bức ai, không phải đi xâu nạp thuế.

Già Kiêu chồm sang nắm tay tôi:

- Nghe mày nói tao sướng cái bụng quá, ước gì được vậy. Người tù trưởng già lặng im, đôi mắt mơ màng nhìn ra khung trời trước mặt như đang hình dung cảnh Kinh, Thượng kết đoàn, thương yêu nhau, bỏ qua mọi thù hận. Rồi gỗ quý, măng rừng... theo con suối con sông về xuôi; gạo, muối, vải vóc, cuốc, rựa, kim chỉ... theo vai người lên núi. Một lúc, già Kiêu quay sang hỏi tôi:

- Nhưng tao lo, thằng Tây có cái súng nhiều, bắn đi xa, còn cái ná mình bắn không tới nó, cái mác mình đâm không thủng thịt da nó, làm sao giết hết được, đuổi được nó ra khỏi nước mình?

Tôi cười:

- Thế mà lâu nay Tây có lên được buôn của già đâu. Mình đánh nó theo cách của mình, miễn sao giết được nhiều Tây, nhiều lính. Đánh hoài giết hoài thì nó phải bỏ nước mình mà đi.

- Mày nói trúng cái bụng tao rồi. Đã nhiều mùa rẫy, từ hồi thằng đội "Xạc" kéo lính lên bị cái chông giàng mũi tên độc của dân làng tao bắn chết thì chúng nó không dám lên nữa.

- Nhưng lâu nay thằng Tây nó làm người Kinh ghét người Thượng, người Thượng thù người Kinh, nên Kinh Thượng chưa hợp sức cùng nhau "bờ ró tà dẻ" (nổi dậy đánh giặc), chỗ này đánh, chỗ kia không, nên Tây bắt lính nơi này đi đánh nơi khác. Kinh, Thượng chưa có người tài giỏi chỉ cách đánh Tây. Nay mình có cụ Nguyễn Ái Quốc, người tài giỏi đi nhiều nước học cách đánh Tây, coi Kinh, Thượng như anh em một nhà, kêu gọi đánh đuổi thằng Tây ra khỏi nước mình rồi cùng nhau làm ăn, sao cho người Thượng có cái khố lành, cái váy đẹp, học được cái chữ người Kinh, có bữa cơm no. Bây giờ ở núi rừng ngoài Bắc mình cũng có một vùng Tây không lên được. Cụ Nguyễn Ái Quốc đang ở đấy bày người Thượng người Kinh đánh Tây, dạy họ học cái chữ.

Già Kiêu chăm chú nghe, thỉnh thoảng gật gật đầu, kêu lên "ọ, ọ! gió! gió" (ừ, ừ ! đúng! đúng!).

Tôi đọc và dịch đại ý bức thư của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Trầm ngâm suy nghĩ một lúc, Già Kiêu bảo tôi:

- Mày nói hay lắm! Đúng lắm! Tao chưa được nghe ai nói như mày, tao tin mày, tin cộng sản đánh được Tây. Nhưng việc này to lắm, phải giữ kín. Tao sẽ nghĩ, lần sau lên đây, tao sẽ nói cái bụng tao nghĩ gì.

- Ông cứ nghĩ, nhưng việc đánh Tây không chậm được đâu.

Tôi lựa cách nói cho Già Kiêu hiểu Nhật sẽ vào Đông Dương bắt dân mình phá lúa trồng bông, trồng lạc. Ngoài Bắc người đói chết đầy đường. Tây ghét Nhật nhưng sợ, vì Nhật - Đức - Ý hợp sức đưa quân đi đánh chiếm nhiều nước. Trước sau thì Nhật cũng cướp nước mình.

- Vậy đợi đến lúc đó đánh luôn thể - Già Kiêu ngắt lời tôi.

- Không, việc đánh Tây phải lo từ bây giờ. Nhật - Đức - Ý tuy mạnh nhưng đang trong thế thua. Vì bị quân Nga, Pháp, Mỹ, Ánh, Tầu hợp sức đánh lại. Dưới xuôi ngày nào tàu bay Mỹ cũng ném bom vào quân lính và tàu Nhật đậu ngoài khơi, có lần lửa bốc cháy suốt ngày đêm.


Hôm đó Già Kiêu thết tôi một bữa cơm rượu với thịt nai khô. Đêm ấy một già, một trẻ, người Thượng, kẻ Kinh nằm bên nhau say sưa bàn chuyện đánh Tây. Hôm sau tôi gửi biếu Già Kiêu một số hàng đem theo, mua một đôi gạc nai vắt lên vai trở về Ba Tơ để che mắt bọn người xấu.


Cuộc hành trình từ sớm đến chiều mới về đến Ba Tơ. Chia tay anh Giàu, tôi ghé thăm mấy anh em an trí ở xóm Đá Bàn. Trên đường về nhà tôi tạt vào Trần Cừ, chuyện trò một lúc, khoe với hắn chuyến buôn vừa rồi kiếm được món lãi kha khá. Cốt che mắt hắn. Cừ là người thông minh, sắc sảo, tham gia phong trào cách mạng từ những năm ba mươi, ba mốt, bị địch bắt tù ở Buôn Ma Thuột, nhờ tư chất thông minh, lại có chút ít học vấn nên trong nhà tù hắn tiếp thu lý luận nhanh, sinh ra tự cao tự phụ coi thường đồng chí. Điều tệ hại là trong tư tưởng hắn luôn luôn nghĩ "mình phải là lãnh tụ" và nguy hiểm hơn là trong đấu tranh có ai ngược với ý mình thì hắn tìm cách tiêu diệt, kể cả biện pháp tàn nhẫn nhất. Mãn hạn tù địch đưa Cừ lên an trí Ba Tơ. Trong thời gian ở an trí, Cừ lấy vợ, lập nghiệp ở đây. Biết rõ bản chất con người hắn, bọn mật thám bí mật liên lạc, tâng bốc hắn, dần biến thành tên tay sai. Bên ngoài, Cừ vỗ ngực tự nhận mình cùng cánh với anh em tù an trí, nhưng bên trong thường làm nhụt chí với lời "khuyên" anh em "vừa thôi các ông ơi! Để còn được về mà hoạt động, định nằm chết ở đây à?". Cừ còn bày anh em mánh khóe buôn bán gian lận đồng bào Thượng để chóng giàu. Khi Nhật nhảy vào Đông Dương, Cừ bí mật vận động một số anh em ký tên vào "Bản điều trần xin liên minh với Pháp chống Nhật". Nhiều người nghi ngờ, linh cảm thấy như có cái bẫy đang chờ họ bước vào sau những lời lẽ hùng hồn của Cừ. Nhưng ai cũng thích nghe nó nói để tìm lý lẽ biện bạch cho hành động nằm im lâu nay của mình. "Nước chảy đá mềm", lâu ngày rồi thằng Cừ cũng có thể làm hư hỏng tâm hồn cua một số người. Mấy lần chúng tôi bàn phải vạch mặt nó, nhưng chưa tìm ra cơ hội.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
BƯỚC KHỞI ĐẦU KHÓ KHĂN | Câu chuyện thời hoa lửa