Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

CẢ NHÀ ĐI CHIẾN DỊCH

Đoạn kể tái hiện hành trình gian khổ nhưng đầy lạc quan của một gia đình quân y hành quân lên Tây Bắc phục vụ tuyến trước trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Hai vợ chồng vừa làm nhiệm vụ y tế, hậu cần, vừa thay nhau chăm sóc con nhỏ trên suốt chặng đường dài qua Bắc Giang, Phú Thọ, Yên Bái đến Điện Biên. Dù bệnh tật, thiếu thốn và liên tục di chuyển để tránh lộ bí mật, họ vẫn giữ tinh thần lạc quan, đoàn kết cùng đồng đội dựng bệnh viện dã chiến, sẵn sàng tiếp nhận và cứu chữa thương binh từ chiến

Lai Châu09/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Tuổi trẻ chúng tôi được đi phục vụ tuyến trước là vui mừng quá rồi, rất tin tưởng, lạc quan, chẳng lo nghĩ gì, “đời lính ta, đâu có giặc là ta cứ đi”, đi rồi sẽ biết, rồi sẽ đến! Các chặng đầu còn đi đường cái, đường tỉnh lộ rộng bằng phẳng nhưng phải đi đêm tránh máy bay, còn những chặng đường về sau toàn đi ven rừng, luồn rừng thì lại đi ban ngày, suốt đêm hoặc cả ngày hôm sau được nghỉ. Dù đi đêm hay đi ngày cũng chẳng sao, đáng quan tâm là lo cho cháu bé. Lúc đầu phân công, tôi là Chỉ huy trưởng, phụ trách lái xe thồ 2 ba lô, 2 bao gạo, một số đồ ăn thức uống, soong nồi lỉnh kỉnh và bé Ti Ti, vợ tôi là Chỉ huy phó hậu cần kiêm cấp dưỡng, y tá và chính trị viên. Bắt đầu hành quân, cháu được che kín tránh gió bụi, ấm áp, được cố định vào ghế ngồi cẩn thận vì đường xóc và lắc lư dễ buồn ngủ. Nhưng nào có được lâu, chưa quen nên chỉ một lúc chơi nghịch là ngủ, khi thức giấc là cháu đòi mẹ, đòi uống, đòi ăn, đòi đi vệ sinh... Cho nên bao giờ cũng phải chuẩn bị đầy đủ nước uống, thức ăn có sẵn là quả trứng luộc, củ khoai, nắm xôi, kẹo thì chỉ có kẹo bột, kẹo vừng hoặc miếng đường phèn (đường mía làm thủ công đổ thành bánh dầy 1 phân hoặc cắt thành từng miếng vuông, còn gọi là đường đen vì mang màu nâu sẫm). Rồi cho cháu đi vệ sinh, lau rửa. Xong nhiệm vụ, chỉ huy phó lại địu con trước ngực để đảm bảo an toàn rồi bước thấp bước cao, chống gậy dò dẫm từng bước mà đi. Cứ thế cháu hết ngồi xe với bố lại theo mẹ, thay phiên nhau suốt lộ trình. Đến chỗ nghỉ ngắn thì dùng khăn quàng đỡ lấy đầu cháu, treo lên một cành cây để cháu ngủ ngồi dễ dàng, còn đến nơi được nghỉ lâu thì mắc võng cho cháu ngủ, lúc đó hai bố mẹ cùng mệt, lăn ra ngủ theo trên nệm cỏ, thanh thản và ngon lành.

Từ Bắc Giang qua Phú Thọ rồi Yên Bái, chừng 2 tuần lễ, tôi lên sốt rét mỗi ngày một cơn, lại nuốt ký ninh vàng, khi lên cơn thì run bần bật, hết cơn lại đi, có khi đêm ngủ nhờ nhà dân. Vợ thấy tôi run quá, lo tôi bị sốt ác tính, cứ luôn phải gần bên, che cho tôi đỡ rét vì trời quá lạnh mà chăn thì mỏng, quần áo đâu ủ ấm! Nhiều lần, những người dân tốt bụng cứ kéo vợ tôi ra giường ngoài, sau vài lần như vậy mới nghe có người nói thẳng cho biết là: thấy tôi da vàng như nghệ chắc là bị “phạm phòng” nên khuyên hai vợ chồng không nên “nằm chung” mà phải kiêng... Hiểu ra, chúng tôi vừa xấu hổ vừa cảm động trước tấm lòng thiệt thà của bà con lo cho mình. Có biết đâu rằng tôi chỉ bị “phạm ký ninh vàng quá liều” chứ đâu dám “phạm phòng” khi đi hành quân, lòng nặng trĩu lo lắng đi tới đích vẹn toàn. Điện Biên là đâu? Còn xa không, 1 tháng hay 2 tháng nữa?...

Không như các đơn vị chiến đấu, Phân viện chúng tôi hành quân thật là lỉnh kỉnh, nào là phương tiện chuyên môn kỹ thuật, nào là hậu cần, cấp dưỡng,... tất cả đều phải ngụy trang để không ai nhận ra là đơn vị Quân y, do đó có người đoán là Đoàn Văn công vì thấy thấp thoáng có nữ, có người đoán là công binh vì loảng xoảng có cuốc, xẻng, hoặc xì xào “các anh chị nuôi” vì thấy nhiều nồi soong và chảo... không ai biết là một bệnh viện dã chiến vì từ trước tới nay có nghe nói đến bao giờ.

Cuối cùng cũng đến được nơi quy định hạ trại. Tình hình khẩn trương quá, chưa kịp nghỉ đã phải cấp tốc làm lán bằng tre nứa lợp lá để đón nhận thương binh từ hỏa tuyến về. Ai cũng có nhiệm vụ, khỏe thì vào rừng đốn gỗ, lấy tre, lấy nứa, còn thì chẻ nứa, đan phên, chẻ lạt, lợp mái... suốt ngày không nghỉ, thay nhau bữa ăn qua loa rồi lại ai vào việc nấy, quên mệt nhọc qua câu hò, tiếng hát, tiếng cười. Cháu bé lại thành “chính trị viên” qua lại động viên các cô chú từ tốp này sang tốp khác. Vừa tạm xong đã có lệnh chuyển địa điểm vì “bị lộ”. Hết rừng cọ, rồi rừng gì không biết, lệnh trên bảo chuyển là chuyển, có khi là lo bị lộ, có khi chỉ là kế nghi binh, để rèn luyện. Có lần đi suốt đêm, đến sáng lại quay về nơi xuất phát... Nhưng rồi cũng đến lúc phải ổn định vì thương binh về. Mặc dù công việc rối rít tít mù như thế, các đồng chí vẫn không quên dựng tạm một chiếc lán nhỏ bằng lá gồi cho ba người chúng tôi trú mưa tránh nắng. Thật là trên mức tưởng tượng, có ai ngờ trong hoàn cảnh như thế, chúng tôi cũng có được căn lều “hạnh phúc”! Không rõ có sự kỳ diệu nào mà từ đó cho đến hết chiến dịch (khoảng 2 tháng) tôi không lên cơn sốt nào nữa.

Mới đầu thương binh về còn lẻ tẻ, một số là bệnh binh sốt rét nặng, có đồng chí mê man đe dọa bị sốt rét ác tính. Vợ tôi phụ trách khu Khinh thương (thương binh nhẹ) và bệnh binh, còn tôi phụ trách khu trung và trọng thương gồm cả cấp cứu và phòng mổ. Sau này trong chiến tranh chống Mỹ, trình độ cán bộ chuyên môn cùng với trang thiết bị kỹ thuật khá hơn nhiều, chứ ở chiến dịch Điện Biên chúng tôi còn non yếu lắm. Phân viện chúng tôi có 3 người là Viện trưởng, Viện phó gọi là có tay nghề cao nhất thì bị hút chặt vào công việc mổ xẻ là chính. Hai chúng tôi thì đảm trách tất cả, một số sinh viên y và y sĩ, y tá khác, hoàn toàn còn bỡ ngỡ với những chiến thương, hầu như việc gì cũng “báo cáo” đến chúng tôi phải giải quyết. “Cờ đến tay phải phất” chứ thực ra hai chúng tôi đâu giỏi giang gì, đã tới nước này thì hoại thư, uốn ván, bó bột chi, rồi các trung, tiểu phẫu thuật, thắt mạch máu, cắt lọc phần mềm đều phải làm tuốt luột. Có mấy cuốn cẩm nang ngoại khoa mang theo vừa mở sách ra vừa làm. Khổ nỗi là trong mọi thủ thuật ngành y lớn, nhỏ đều phải có người phụ mổ. Phụ giỏi thì chính khỏe, phụ mà yếu thì chính càng khổ, mà lúc ấy lấy đâu ra phụ giỏi. Trong chiến dịch Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám, thầy Tùng mổ, tôi được phụ hoặc gây mê, bây giờ tôi phải mổ chính và những sinh viên, y tá phải phụ. Đơn vị chúng tôi chỉ được phép giữ thương bệnh binh từ 10 đến 15 ngày, chủ yếu phải nhanh chóng trả về đơn vị chiến đấu, những trường hợp cần cấp cứu tại chỗ và có khả năng khỏi nhanh thì giữ lại, còn phải tổ chức đưa nhanh thương bệnh binh nặng, tàn phế về tuyến sau. Thu dung của toàn khu chuyên môn chỉ được 200 trường hợp. Không thể kể hết bao nỗi khó khăn thời đó, vì từ trang thiết bị đến trình độ nghề nghiệp và kinh nghiệm phục vụ chiến thương đều hạn chế mà một bệnh viện dã chiến như bệnh viện của chúng tôi, với những chiến sĩ quân y non trẻ, đã hoàn thành được nhiệm vụ. Đây cũng là một điều kỳ diệu mà đối phương không nào thể ngờ được.

Hai chúng tôi không kịp suy nghĩ và tính toán gì hết, chỉ biết lao vào việc, lúc chiến dịch sắp đến hồi kết thúc lại chính là lúc chúng tôi căng thẳng nhất, khoảng 1 tháng trời gần như ăn vội vàng, ngủ vội vàng, mặt mũi hốc hác, da vàng khè, vì uống “phòng” ký ninh vàng cố giữ không được lên cơn sốt lúc này, trên mặt chúng tôi chỉ thấy hai con mắt là điểm sáng. Mới đầu có lúc còn rảnh tay mươi phút thì cuống cuồng đi tìm con, hết lán này sang lán khác, có khi tìm hoài không thấy, đành phó mặc quay trở lại với đợt thương bệnh binh mới. Cả ngày không thấy mặt con, khi mệt quá cũng ngủ thiếp đi mươi lăm phút, ngủ rồi lại dậy làm việc, mệt quá lại ngủ, rồi cùng bị đánh thức vì lại có đợt thương bệnh binh mới về. Nhiều lần hai vợ chồng từ khu nọ qua khu kia tìm nhau, hỏi con đâu, thì cả hai đều cùng ngơ ngác không ai biết...

Một lần vợ tôi kể: sau hơn một ngày không gặp con, cũng không kịp lo nữa vì công việc với thương bệnh binh chiếm hết cả sức lực và tâm trí. Bất ngờ một tiếng gọi “mẹ”, vợ tôi quay lại thấy một chú thương binh đầu quấn băng, đang bế cháu. Mẹ con choàng lấy nhau, con bé vẫn hồng hào mạnh khỏe, miệng líu lo, còn chú thương binh thì hốc hác nhưng mắt sáng lên vì thấy hai mẹ con mừng gặp nhau. Chú ngượng nghịu xin lỗi vì một quyết định của các chú là đã chuyền tay chăm lo cháu từ lán này qua lán khác, giấu cháu đi không cho chúng tôi thấy; cốt sao cho bố mẹ cháu rảnh tay hơn. Các chú nghĩ đơn giản quá, không biết tâm lý bố mẹ cháu lo lắng thế nào, sau nghĩ lại mới bế cháu đi tìm bố mẹ. Vợ tôi mừng quá chẳng dám trách giận gì, còn cảm động vì tấm lòng của các chú và vẫn phải tươi cười trao lại cháu nhờ các chú, vì chẳng có cách nào khác. Con bé vẫn khỏe mạnh hồng hào vì phần ăn của mỗi thương bệnh binh là khẩu phần ưu tiên số 1, mỗi chú dành cho cháu một miếng, cháu đâu có thiếu. Thời kỳ ấy, lương thực chủ yếu chỉ là cơm nếp hoặc tẻ, súp, cháo thịt nạc đỗ xanh..., thức ăn có đủ thịt lợn, gà, bò hoặc trứng... cháu được nuôi dưỡng như đứa con chung của các chú thương bệnh binh.

Có một lần khiến mọi người lo lắng. Số là có một chú bệnh binh bị rối loạn thần kinh ôm cháu leo tít lên cây cả khu bổ đi tìm. Nghe tiếng khóc mới thấy hai chú cháu đang vắt vẻo trên một cành cây cao, vừa ru dỗ cháu nín. Mọi người xôn xao, có chú định leo lên dùng sức mạnh gỡ lấy cháu, nhưng xem ra cách ấy không ổn, sau cùng dùng phương pháp động viên dụ chú bệnh binh tự bế cháu cùng xuống. Cách này mất gần 2 tiếng đồng hồ chờ đợi nhưng đạt hiệu quả an toàn.

Vào thời kỳ cuối, chiến dịch đã toàn thắng, thương bệnh binh đã dần về hết tuyến sau, Ti Ti trở nên rất quen thuộc với các chú, lúc đó đã thu gọn lại chỉ còn mươi lán khoảng vài chục người cuối cùng. Vợ chồng chúng tôi đã có thời gian nghỉ ngơi và chăm nom cháu, nhưng vì đã quá quen nếp sống tập thể, các chú ngày nào cũng xin đón cháu vào sáng sớm trước giờ làm việc. Vợ tôi đành nghe theo, nhưng có sáng kiến làm một bảng nhỏ cắt bằng bìa cứng đeo vào cổ, đề rằng: “Xin các bác, các chú không cho bé ăn nhiều quá để giữ vệ sinh cho cháu”. Lúc đầu cháu thấy hay hay, đến đâu cũng khoe, nhưng tiếc thay chẳng mấy chốc mà tấm bảng đó bị rơi rụng nhanh chóng, cháu bé lại bị các chú nhồi căng bụng. Một lần chúng tôi dự liên hoan quanh đống lửa hồng cùng thương bệnh binh, thấy con mình đứng giữa, nó đứng lên ngồi xuống, bắt các chú thương binh làm theo, không làm theo không được, có chú còn mang nạng sao làm theo, đành phải co duỗi cái chân lành, cháu mới chịu. Vợ tôi mắng nó, các chú còn bênh. Chúng tôi xin lỗi các chú, nói lời chân thành biết ơn. Một chú thương binh đầu còn quấn băng, là một cán bộ đại đội, tuổi trạc chúng tôi (25 - 26), đứng lên nói:

“Anh chị đừng lo, không phải cám ơn gì cả vì chính chúng tôi phải cám ơn anh chị nhiều mới đúng. Không ai ngờ anh chị mang cả cháu bé mới 2 tuổi ra sát hỏa tuyến chăm lo cho thương bệnh binh, mà chính cháu lại làm công tác tư tưởng rất diệu kỳ động viên chúng tôi. Không ai ngờ rằng trong đạn bom ác liệt, mang vết thương phải lui về bệnh viện chữa trị lại được nghe tiếng con trẻ, lại được bồng cháu bé Ti Ti, con của đồng chí quân y đang chữa trị cho mình. Cháu đã được chuyền tay hết lán này qua lán khác, chúng tôi đã cảm động vô cùng khi biết rằng cháu bé cũng đi chiến dịch cùng cha mẹ, một trường hợp thật quá hy hữu. Có lẽ trên thế giới này, cuộc đánh trận của chúng ta có một không hai. Cháu Ti Ti có mặt ở đây cũng là một trường hợp có một không hai. Cháu ngoan lắm, rất ít khóc mà lại thường khiến chúng tôi cười, quên đau đớn, quên mọi thiếu thốn gian khổ, lại còn buộc chúng tôi phải luyện tập nữa chứ! Tôi không biết làm thơ nhưng cũng xin võ vẽ mấy câu:

Đôi mắt đen lay láy
Cái miệng cười tươi tươi
Các chú yêu cháu lắm
Cháu bé Ti Ti ơi…”


Hai chúng tôi rơi nước mắt trước chân tình ấy, không rõ giờ này chú thương binh ấy ở đâu, làm gì, có tình cờ đọc những dòng này không? Hay là đã hy sinh ở một chiến trường nào đó trong một cuộc chiến tranh dài dằng dặc mà cả dân tộc, cả đất nước ta phải gánh chịu trong 30 năm trời? Chú có biết cháu Ti Ti ngày ấy nay đã là một bác sĩ tuổi ngoại ngũ tuần, Trưởng một “la bô” trong một Viện Y học tầm cỡ lớn của đất nước:

"... Kháng chiến trường kỳ hai lần bão táp
Ba mươi năm chưa bạc mái đầu xanh
Lẽo đẽo cùng tôi lên thác xuống ghềnh
Sâu đăm đắm những bóng hình không phai lạt...”


Chưa xả hơi được bao lâu, Phân viện chúng tôi lại gấp gáp thu dọn, chuyển về nhận nhiệm vụ mới, lúc đó vào đầu tháng 8 năm 1954, hành quân ra Sơn Tây, xuôi về Thái Bình, đến đầu bờ nam cầu Hàm Rồng dựng trại, đón nhận thương bệnh binh miền Nam tập kết ra, từ Sầm Sơn ngược dòng sông Mã lên. Lần này hòa bình rồi, hai mẹ con ở lại làm tiếp nhiệm vụ một thời gian rồi được ưu tiên bám xe bộ đội, tiện ghé qua Hà Nội thăm nhà vài ngày sau khi Hà Nội vừa được tiếp quản. Mình tôi hành quân bộ theo đơn vị...

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn