CÁC "CHI ĐỘI NAM TIẾN" VÀ CÁC "CHI ĐỘI VIỆT KIỀU" SỚM CÓ MẶT TRONG CUỘC "KHÁNG CHIẾN NAM BỘ" TỪ NGÀY 23 THÁNG 9 NĂM 1945
Nửa đêm 22 rạng 23 tháng 9 năm 1945, đúng 28 ngày sau khi đồng bào Sài Gòn khởi nghĩa thành công, tiếp theo Hà Nội, Huế. Đêm ấy quân Pháp được sự giúp đỡ của quân Anh, đánh chiếm một số trụ sở của chính quyền cách mạng. Nội sáng 23, Ủy ban kháng chiến Nam Bộ phát hành lời hiệu triệu đồng bào: ... "Từ giờ phút này, nhiệm vụ hàng đầu của chúng ta là tiêu diệt Pháp và tiêu diệt tay sai của chúng. Hỡi anh em binh sĩ, dân quân tự vệ! Hãy nắm chắc vũ khí, xông lên đánh đuổi thực dân Pháp, cứu nước. C
Hiệu triệu phát hành toàn Nam Bộ, lên Việt kiều ở Cam-pu-chia và ra Trung Bộ. Một bức điện khẩn xin ý kiến Trung ương được gửi ra Hà Nội. Đồng bào Sài Gòn, Nam Bộ vùng lên và cấp kỳ được tiếp sức bởi đồng bào cả nước và đồng bào ở những nước lân cận. Cả dân tộc một lòng.
Kháng chiến mới nổ ra thì tôi được tin Việt kiều các tỉnh Cam-pu-chia tiếp giáp với Nam Bộ gọi nhau về Châu Đốc đầu quân.
Không quá vài tuần sau, tôi từ Chợ Đệm (nơi trụ sở mới của Bộ chỉ huy mặt trận) phóng xe lên Xuân Lộc (Biên Hòa) để đón tiếp các đồng chí Vũ Đức, Quang Trung, Nam Long dẫn mấy chi đội Nam tiến vào tới rồi! Khó hiểu thật: đường hỏng, cầu sập, xe ọc ạch, làm sao mà hàng ngàn thanh niên với súng ống, đạn dược, lương thực vượt ngàn cây số từ Bắc vào Nam nhanh như Quang Trung ngày xưa điều quân ra Bâc đánh Tôn Sĩ Nghị. Tôi không có điều kiện để biết hết thành tích của các chi đội Nam tiến, nhưng tôi đã chứng kiến tinh thần phấn khởi, khó tả nổi của đồng bào Nam Bộ, trước hết là của quân dân Sài Gòn khi được tin và thấy tận mắt các chiến sĩ từ Bắc, Trung vào cùng với mình đánh trả quân thù cướp nước.
Từ tết năm 1946 tôi sang mặt trận miền Tây Đông Dương, nhằm mục đích là:
1) Cùng với người yêu nước Cam-pu-chia biến Cam-pu-chia thành một "cứ điểm chiến lược" - mà đồng chí Văn ở Hà Nội gọi là một Appui logistique cho cuộc kháng chiến, vừa để cho Pháp khó lấy người, lấy của, lấy lãnh thổ Chùa Tháp để đàn áp kháng chiến ở Nam Bộ, vừa để góp sức nhỏ mọn của bọn tôi cho 5 triệu người dân Cam-pu-chia cùng với người Việt Nam (ở Nam Bộ) đánh quân Pháp xâm lược, tạo cái thế "đông có mầy, tây có tao" căng địch ra mà diệt.
2) Tập hợp, động viên lực lượng của Việt kiều ở Thái và ở tây Cam-pu-chia, lập thành những bộ đội có võ trang đầy đủ, lần lượt đưa về Nam Bộ là nơi đã kháng chiến cả nửa năm trời rồi, mà cũng là nơi có ít súng, ít đạn, lại phải đối đầu với những sư đoàn thiết giáp và bộ binh của Massu Leclerc bên Pháp đưa qua.
3) Tự tạo ra điều kiện và với sự trợ lực của phe tiến bộ người Thái (Sirithai) trong và ngoài chính quyền để một mặt là tuyên truyền quốc tế cho kháng chiến Việt Nam, mặt khác là "kiếm" viện trợ về vũ khí ngay trên đất Thái và cả ở một vài xứ láng giềng của Thái.
Tất cả ba việc đó, bọn tôi đã làm được một phần đáng kể. Nếu không có cuộc đảo chính của tướng Phibul Songram năm 1948, thì bọn tôi có thể làm nhiều hơn.
Tôi chỉ xin ghi lại mấy việc thuộc vài đề tài của các bạn đề ra: Các chi đội Việt kiều về Nam Bộ. Tôi chỉ nói cái gì mà bài đội quân Việt kiều chưa nói ở trong báo cáo của các đồng chí; còn phân lớn điều các đồng chí nói thì tôi lại không biết vì tôi không lúc nào trực tiếp tác chiến cả! Cũng có, nhưng trong trận quân Khơmer Issarak và quân Việt kiều đánh Ampin, ở chân núi Đăngrek, tôi có đi "lược trận’’ mà trong túi dết tôi chỉ có cây súng lục 6/35 bắn ghen thôi! Có mặt ở chỗ súng nổ bom rơi chẳng qua là để anh em thấy chính trị viên cũng ra trận chớ không phải chỉ biết ở văn phòng!
Bộ đội số 1 do Ngô Thất Sơn và Vàng chỉ huy đi đường bắc Biển Hồ về biên giới Tây Ninh - Soài Riêng. Sơn là cận vệ thân thiết của tôi giỏi tiếng Khơmer sau gọi là Srivotha, lấy tên một người anh hùng.
Bộ đội số 2 là bộ đội Quạng Trung do Thuận, Hoàng Xuân Bình chỉ huy, đi đường nam Biển Hồ, định về hoạt động ở biên cảnh Tà Keo - Châu Đốc.
Bộ đội số 3 (cũng gọi là Cửu Long 2) do Phúc chỉ huy, đi về Nam dọc theo biển, đường núi gay go. Trước đó, tôi và Phúc có đi Mã-lai xin được khá nhiều súng đạn của du kích kháng Nhật, có cả mấy đồng chí Mã-lai cùng về Nam Bộ. Nói thêm rằng, trong số vũ khí của bộ đội này có súng đạn mà Phúc và tôi chở từ nhà của Nai Tiang và Thôngin buổi sáng sau khi Phibul Songram làm đảo chính. Nai Tiang và Thôngin nguyên là bộ trưởng.
Bộ đội 1, 2, 3 phần lớn là Việt kiều Báttambang.
Bộ đội số 4 (bộ đội Trần Phú) tất cả là Việt kiều ở Thái do các anh Sản, Tẩm... chỉ huy, bộ đội đông nhất. Về hoạt động ở vùng Tiền Giang, Tháp Mười, Sa Đéc.
Tất cả bốn bộ đội Việt kiều đều được trang bị tốt, hầu hết là tiểu liên Mỹ, đạn khá nhiều; nón sắt, quân phục tử tế. Tác chiến hết sức gan dạ. Trên đường về, người Cam-pu-chia ủng hộ. Về tới Nam Bộ, đồng bào ta nhiệt tình hoan nghênh.
Các đồng chí Việt Nam hoạt động chính trị ở Thái, ở Báttambang đã đem hết sức mình ở phía đông bắc thì giúp cho Lào tiếp tục kháng chiến, ở phía đông nam thì giúp Cam-pu-chia tổ chức và phát triển phong trào du kích chống Pháp. Về sau tôi không rõ, song những năm từ 1946, 1947, qua đến 1948, người Cam-pu-chia có Ủy ban dân tộc giải phóng hợp tác rất chặt chẽ với chúng tôi; trong ủy ban này có người Cam-pu-chia Trà Vinh sau này làm chủ tịch Ủy ban dân tộc được tổ chức ở miền Đông Nam Cam-pu-chia. Đó là đồng chí Sơn Ngọc Minh. Sơn Ngọc Minh đã từng đi từ Báttambang về Nam Bộ với hai chi đội Việt kiều về nước; đồng chí được người Cam-pu-chia vô cùng cảm phục, giống như Ngô Thất Sơn vậy. Ủy ban dân tộc giải phóng Cam-pu-chia tổ chức ở tỉnh Báttambang đã lập được nhiều đội du kích mạnh, một đội mạnh là đội của Saru, Savan, Đapchun đã có lần đánh chiếm tỉnh lỵ Xiêm Riệp rồi lên chiếm Đế thiên, Đế thích một thời gian, khi ấy bộ đội du kích của người Cam-pu-chia chiếm Xiêm Riệp được sự tiếp viện của một bộ phận chi đội Việt kiều số 1 của Sơn, Vàng.
Cuối 1948, hay đầu 1949 - tôi nhớ không rõ - tôi về Việt Bắc, từ đó không còn biết gì ở mặt trận miền Tây Đông Dương nữa.



