Các nhân chứng lịch sử
Các nhân chứng lịch sử
Ông nội tôi từng là một người hầu cận cũ của triều đình, từng theo phò vị vua trẻ trong những năm tháng biến động nhất của đất nước. Trong một lần tình cờ, tôi đã đọc được những dòng nhật ký của ông trong một cuốn sổ tay cũ kỹ.
“ Tháng 7 1883, vua Tự Đức qua đời, sau đó không lâu, hai phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết tôn Nguyễn Phúc Ưng Lịch lên làm vua, lấy hiệu là Hàm Nghi.
Tôi còn nhớ rõ lần đầu nhìn thấy cậu bé Nguyễn Phúc Ưng Lịch trong Đại Nội ở Huế. Cậu nhỏ tuổi, ít nói, ánh mắt luôn như đang suy nghĩ điều gì đó rất xa. Khi ấy, không ai nghĩ cậu sẽ bước lên ngai vàng của Nhà Nguyễn.
Trong ký ức của tôi, cậu thường đứng lặng dưới bóng cây trong sân, nghe tiếng chuông chùa xa xa. Có lần, khi được hỏi có muốn sau này làm vua không, cậu khẽ lắc đầu:
"Ta chỉ muốn được sống bình yên như bao người khác."
Nhưng lịch sử không hỏi ý muốn của một đứa trẻ.
Năm ấy, cậu mới mười ba tuổi thì được tôn lên ngôi. Triều đình rối ren, thế lực ngoại bang ngày càng lấn tới. Khi khoác long bào, gương mặt còn non nớt ấy phải học cách che giấu sợ hãi.
Tôi từng thấy Người ngồi một mình trong điện vắng, đôi tay đặt trên đầu gối, ánh mắt nhìn xuống nền gạch lạnh. Và tôi nghe tiếng thì thầm rất khẽ:
"Trẫm còn quá nhỏ… nhưng nếu không đứng lên, ai sẽ đứng lên?"
Tôi biết triều đình hiện giờ đang chia làm hai phe chủ chiến và chủ hoà, nếu người nắm giữ ngôi vua theo phe nào thì ưu thế sẽ nghiêng về phe đó. Hàm Nghi là một vị vua có tư tưởng chống Pháp mạnh mẽ, chỉ có khi Người lên ngôi thì dân tộc ta mới có cơ hội được giải phóng.
Thế nhưng, kinh thành vẫn thất thủ. Đêm đó, lửa cháy đỏ cả một vùng trời. Chúng tôi theo chân nhà vua rời khỏi hoàng cung. Từ một bậc chí tôn sống trong nhung lụa, Người trở thành kẻ bôn ba giữa rừng sâu.
Tôi còn nhớ những bước chân lội suối, những bữa cơm vội vàng giữa tiếng côn trùng rền rĩ. Có đêm mưa lớn, áo Người ướt sũng, môi tái đi vì lạnh. Tôi khuyên Người nên nghỉ ngơi, nhưng Người chỉ lắc đầu:
"Nếu dân còn chịu khổ, Trẫm không thể an thân."
Phong trào Cần Vương lan rộng. Lời kêu gọi vì vua, vì nước vang lên khắp nơi. Trong ánh mắt nghĩa sĩ khi nhìn Người, tôi thấy niềm tin. Nhưng trong ánh mắt Người khi nhìn họ, tôi thấy trách nhiệm nặng nề hơn cả núi.
Có lần, sau một trận thất bại, Người nói với tôi:
"Ta sợ không phải vì cái chết. Ta sợ lòng dân mất niềm tin."
Cuộc kháng cự rồi cũng đến hồi kết. Năm 1888, Người bị bắt. Tôi không được theo sang xứ người, chỉ nghe tin Người bị đày sang Algeria, nơi cách quê hương nửa vòng trái đất.
Nhưng câu chuyện về Người vẫn truyền về. Ở vùng đất xa lạ ấy, Người học vẽ tranh, học điêu khắc, sống lặng lẽ như một nghệ sĩ. Không còn ngai vàng, không còn triều thần, chỉ còn một con người đối diện với nỗi nhớ quê hương.
Người từng viết trong một lá thư gửi bạn cũ (tôi nghe kể lại):
"Xa đất Việt, ta mới hiểu quê hương nằm trong tim mình sâu đến thế nào.”
Sau này, những năm cuối đời tôi chuyển vào Hà Nội sinh sống và điều trị. Tôi đã được biết đến một nhân vật cũng ưu tú không kém, đó chính là Hồ Chí Minh. Từ khi Người xuất hiện, con đường cách mạng Việt Nam đã phát triển lên một giai đoạn mới.
“ Tháng 8 năm 1945, cách mạng tháng Tám diễn ra, ngày 2 tháng 9 năm 1945, Người đọc bản Tuyên Ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. “
Dòng nhật ký đến đây là kết thúc. Cảm xúc của tôi vẫn bồi hồi về những hồi ức lịch sử kia. Ông tôi là một trong những người đã chứng kiến cho những biến động thăng trầm của lịch sử Việt Nam xuyên suốt thời kỳ chống Pháp. Trong dòng chảy lịch sử ấy, mỗi một người đều là nhân tố đóng góp tác động lên tạo nên sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc. Mỗi một người trong quá khứ hoặc hiện tại đều là “ nhân chứng lịch sử “



