Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

CÁNH VÕNG NGHĨA TÌNH

Câu chuyện kể về hành trình gian khổ của bộ đội tình nguyện Việt Nam hoạt động ở rừng núi Lào năm 1966 và tình cảm sâu nặng giữa người lính với đồng bào địa phương. Đặc biệt là kỷ niệm cảm động về cô gái người Mông tên Y-cơ đã tận tình cứu giúp, chăm sóc người lính khi bị sốt rét, nhưng sau đó qua đời khi sinh con, để lại nỗi tiếc thương và ký ức không thể phai mờ về tình nghĩa Việt – Lào.

Lai Châu10/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tôi bảo bác sĩ Lạng: "Cứ mổ bụng noọng ra, chuyện nhân đức có chi mà ngại?". Nhưng Lạng rùng mình, đôi mắt lạc đi như mắt người vô hồn, tay run run làm cho con dao sáng loáng rơi đánh choang xuống chiếc đĩa đựng bông băng đã thấm cồn 90 độ. Lúc đó, hiển hiện hình ảnh một thiếu nữ người Mông với nước da mịn màng, đôi vai nở nang vuốt xuống cái eo lưng và đôi chân thon thả chạy lon ton trên chiếc cầu độc mộc vắt qua con suối nước cuồn cuộn chảy năm nào...


Ngày ấy, đơn vị bộ đội quân tình nguyện Việt Nam giúp các bạn Lào nhận nhiệm vụ từ Cánh Đồng Chum bí mật luồn rừng giữa mùa mưa của Thượng Lào vào khu địch hậu phía đông Viêng Chăn xây dựng căn cứ du kích để đón thời cơ giải phóng Viêng Chăn sau này. Chúng tôi xuất phát đêm 25 tháng 6 năm 1966 từ Khang Khay, với lời giao nhiệm vụ của Thủ trưởng Bình Sơn trước khi lên đường: "Vào khu rừng phía Đông Viêng Chăn ấy, các đồng chí phải hoàn toàn tự túc. Khi chưa nắm được dân, mọi sinh hoạt đều phải dựa vào sự hoang dã của rừng. Tuy nhiên, sự hoang dã ấy không phải là vô tận, nên phải dựa vào dân. Dựa vào dân không chỉ là bát gạo, trái bắp mà cái chính, cái vô tận là lòng dân...


Ai đã từng dọc ngang đất nước Triệu Voi đều biết sự khác nhau như ngày và đêm, như mưa và nắng, như ao và biển giữa rừng Trung Lào và rừng Thượng Lào. Nếu ở Trung Lào là những cánh rừng khộp trông thấy sự mênh mang, cây cối thưa thớt, trầm mặc thì rừng ở Thượng Lào là mịt mù dây rợ, gai góc chằng chịt. Do phải giữ bí mật nên trên đường đi chúng tôi chẳng những không được phát cây để mở đường mà còn không "bẻ cỏ" nên phải dắt tay nhau mà luồn rừng, nếu không là lạc. Mà đã lạc là sẽ nằm lại mãi mãi với rừng, với tiếng của hang động, tiếng cót két của cây rừng... Cũng vì phải luồn rừng như thế nên gai góc xé nát quần áo trên người. Các loại vắt: vắt xanh vắt vàng, vắt bò vắt nhay, vắt ngỗ ngược, vắt âm thầm đều "xây căn cứ" vào nách, vào bẹn, vào mang tai... làm cho chúng tôi ngứa ngáy, bực bội. Tất cả những gì vướng vất như nồi quân dụng kềnh càng đều lẳng đi hết. Khi xuất phát từ Khang Khai, mỗi người chỉ khoác được 15 ngày gạo. Bởi lẽ, gạo nuôi ta sống, nhưng sống để đánh giặc thì phải có súng ống, đạn dược và khí tài nữa chứ. Do mưa tầm tã suốt ngày lẫn đêm và gai góc cứa nát tất cả những gì trên người chúng tôi nên đến ngày thứ năm, thứ sáu gạo mang theo đã mốc xanh rồi biến thành màu đen như "cứt chó". Mặc dù vậy, gạo vẫn là gạo nên vẫn còn ăn được. Đến ngày thứ mười, đồng chí dẫn đường người Lào là Lườm A-pú trèo lên cây cao lêu đêu trên một đỉnh đồi rồi tụt xuống bảo: "Chúng mày ơi, vẫn còn ở phía tây nam Long Chẹng, phải trên 20 ngày nữa mới tới nơi!".


Thế là 5 ngày gạo phải chia ra cho 20 ngày. Khi ấy thì mười người như chục, ai cũng ngong ngóng "miếng cứt chó" của anh nuôi. Nhưng rồi "cứt chó" cũng chẳng còn, chúng tôi phải sống bằng măng rừng. Tuy nhiên, măng chỉ là "gia vị", chứ càng ăn càng rão, anh nào anh nấy đều hốc hác, mắt sâu hoắm, chân tay bủn rủn. Tôi trông bác sĩ Lạng thấy anh đến là thảm hại, vừa thương anh vừa bật cười về cái trán dô ra, cái má hóp lại của anh, nhưng không dám cười sợ anh mủi lòng. Có biết đâu, cả tôi, cả các đồng chí khác, té ra cả đoàn đều như vậy!


Trời vẫn cứ mưa như trút. Bỗng một đêm qua trảng trống, chúng tôi trông thấy một ngôi sao nhấp nháy, sáng lung linh và thấp lè tè tưởng chừng như với được. Ai cũng mừng thầm, sớm mai sẽ có nắng. Thủ trưởng Khoa bảo: "Ngày mai có nắng, ta sẽ nghỉ chân để trút đi sự hôi hám trong người". Chúng tôi chưa kịp mừng thì anh bạn Lào dẫn đường bảo: "Một sao - ao nước. Chúng mày chớ có mừng vội!". Lời "tiên đoán" của Lườm A-pú quả không sai. Mới tang tảng sáng gió đã mang theo mưa, ầm ầm đổ xuống núi rừng, quật gãy răng rắc các loại cây, trời tối mịt mùng, đen đặc như trong hũ. Hết thảy mọi người trong đoàn đều ướt sườn sượt. Mặt đất bỗng chốc chìm nghỉm trong nước. Chúng tôi đều phải chạy bì bõm lên các mô đất cao, ngồi ôm gối thu lu, run lẩy bẩy. Chúng tôi cứ ngồi thi gan với trời đất như vậy cho đến lưng lửng chiều thì bỗng thấy một bóng người lum khom bên kia bờ trảng. Cái bóng cứ thấp thoáng lúc có, lúc không. Mưa đã ngớt, mây đen dắt díu nhau trôi lan man về phía chân trời, ánh nắng yếu ớt đong đưa trên những đọt cây ngậm nước. Chúng tôi phân công cho mấy đồng chí cầm súng ra bìa rừng xung quanh trảng để cảnh giới và mấy anh hì hục đào củ mài ngay bên bờ suối, còn tất cả đều cởi quần áo, hay nói đúng hơn là những bộ đồ đã rách tươm tả vắt cho kiệt nước rồi hong lên những tảng đá ở giữa trảng tròn. Chúng tôi gạt nước mắt khi trông thấy thân hình tiều tụy của nhau rồi kiếm củi đem xuống suối rửa, đoạn đốt lên mướng củ mài. Một điều hết sức vô lý, tưởng là ngu ngốc nhưng lại hợp lý là, với củi khô ở Thượng Lào, trước khi đun phải đem rửa kỹ củi mới bắt lửa* (Củi bị mối đắp đầy đất bên ngoài nên nếu không rửa sạch đất thì không thể mồi lửa được). Đó là điều hết sức lạ lùng. Nhưng sự lạ lùng ấy vẫn chưa sánh kịp sự kỳ lạ là trong cùng một lúc, cùng một nơi lại có tới bốn hướng gió** (Vùng này có nhiều hang động dưới mặt đất, thường hút gió tạo thành vòng xoáy 4 hướng), làm cho củ mài không sao chín được. Sự kỳ lạ này đã giúp chúng tôi vợi đi sự thiếu thốn về vật chất, bù vào đó là sự từng trải của chí làm trai. Bỗng những câu thơ: Làm trai sống ở trong trời đất / Phải có danh gì với núi sông của Nguyễn Công Trứ hoặc: Làm trai cho đáng nên trai / Phú Xuân đã trải, Đồng Nai đã từng cứ chảy rần rần trong máu chúng tôi. Chúng tôi thấy tự hào vì ít nhất bản thân mình cũng sống có ý nghĩa, chép miệng xem thường những hạng người ru rú bên váy vợ hoặc: An góc bếp / Chết góc chạn...


Chúng tôi mỗi đứa cầm một khúc củ mài còn sường sượng, đen thui lủi chùi vào ống quần rách bươm bả, nhai nhồm nhoàm, trông nhau cười ré lên thì bỗng thấy mấy bóng người lại thập thò nơi bìa trảng. Chúng tôi bàn nhau rồi quyết định cử anh bạn Lào bí mật vòng ra phía sau những cái bóng kia xem sao. Thủ trưởng Khoa và chính trị viên Thu phân công cho từng tiểu đội chiếm lĩnh các gò cao sẵn sàng chiến đấu.


Chúng tôi chưa kịp triển khai đội hình thì anh bạn người Lào đã huơ tay, nhảy tâng tâng dẫn một đoàn người đi theo tiến về phía chúng tôi. Đi sau Lườm A-pú là một ông già quắc thước, bắp chân, bắp tay và lồng ngực se lại như một võ sĩ, trông ông na ná như những pho tượng đá trong những hang động Ma-hả-xay của người Lào. Chắc đó là già làng. Sau ông già là những thanh niên và thiếu nữ của một bản người Mông gần đó. Lườm A-pú bảo với tôi: "Đây là dân của bản Phù Vinh ra đón chúng mày do noọng này trông thấy chúng mày đầu tiên rồi chạy về báo cho người già". Lườm A-pú vỗ vào vai người thiếu nữ ấy. Noọng cười cười, bẽn lẽn liếc trộm từng đứa chúng tôi, còn dân bản thì xì xào với nhau. Chắc bà con thấy thân hình còm cõi của chúng tôi nên hết thảy đều sụt sịt, nước mắt lưng tròng. Giây phút thiêng liêng ấy đã hòa chúng tôi vào dân bản.

Trời tạnh hẳn, bà con dỡ cơm từ những cái bọc mang theo cho chúng tôi ăn. Ăn đến đâu khỏe ra đến đó. Chúng tôi bốc cơm chấm muối, cơm mới đưa vào miệng đã trôi tuột xuống họng. Trong đời mình, đây là bữa cơm ngon nhất. Do nhịn đói lâu ngày, bụng anh nào anh nấy đã căng căng mà ánh mắt vẫn thòm thèm nên đồng chí chỉ huy phải liếc mắt ra hiệu cho chúng tôi dừng bốc. Tuy nhiên, đối với một số anh em, cái liếc của thủ trưởng đã quá muộn màng. Tôi là một trong số anh em ấy, cung do ăn quá no nên bụng cứ anh ách không sao đeo ba lô và khí tài được. Hồi còn nhỏ, mẹ tôi bảo khổ nhất là ăn quá no, bây giờ mới thấy thấm. Những đồng chí ăn quá no như tôi đều được bà con đeo ba lô, khí tài cho. Riêng tôi, không rõ là người còm cõi nhất hay là trẻ nhất mà người thiếu nữ kia giành phần ba lô của tôi đầu tiên. Hồi ở chiến khu Khang Khai, tôi đã biết võ vẽ tiếng Lào, kể cả tiếng Mông nên trên đường đi về bản, tôi hỏi người thiếu nữ: "Tên em là gì?". Em còn đang ngượng ngùng thì Lườm A-pú bảo: "Nó là Y-cơ, con gái của Dông Câu - Huyện ủy viên Nhọt Ngừm này đấy.


Năm ấy, Y-cơ chừng 14, 15 tuổi. Em hồn nhiên, cái miệng không hát thì cười, vừa đi đôi tay vừa vung vẩy như người đang múa, đôi chân chạy long tong. Mỗi lần qua cầu độc mộc là em chạy sang trước, đặt ba lô xuống rồi lon ton chạy sang dắt tôi qua cầu. Qua cầu rồi, trông dáng điệu anh Lạng cao lêu đêu, lò dò qua cầu là em bụm miệng cười rồi chạy đánh vút như con sóc sang bên kia dắt tay anh Lạng cùng sang. Chúng tôi cứ đi vui vui như vậy, chả mấy chốc đã tới bản của Y-cơ.


Đoàn chúng tôi nghỉ lại bản Phù Vinh của Y-cơ mươi ngày cho lại sức. Bản nằm chênh vênh trên một trái núi đá. Người Mông không ở nhà sàn như một số dân tộc khác. Nhà của họ được dựng ngay bên sườn núi hết sức sơ sài, gần như tuềnh toàng nhưng đầy gió và trăng sao về mùa khô, hương hoa về mùa mưa. Mới chỉ có mươi ngày được dân nuôi bằng khoai, bằng bắp với thịt nai, thịt hoẵng mà chúng tôi anh nào anh nấy đều béo phị má, da hồng, tóc mượt. Nhưng cũng có những anh, sau cái dáng bảnh trai giả tạo ấy là mở đầu cho những cơn sốt rét li bì, trong đó có tôi. Kinh nghiệm những năm tháng ở chiến khu Sầm Nưa, một chiều nọ, bốc nắm ngô đưa lên miệng mới nhệu nhạo đã tuột xuống cổ họng, ngòn ngọt như mía lùi và tiếp theo đó là cái rùng mình rồi cơn nóng ở đâu ập lại. Toàn thân như lửa đốt, chả biết mặt mũi như thế nào chứ chân tay thì đỏ rần rần và cơn ngứa từ gan ruột kéo ra. Mới xoa xoa được mấy cái thì bỗng da dẻ biến từ màu hồng sang trắng bệch, rồi thâm thẩm như da giun chết. Cái rét quật đổ tôi trong chốc lát. Tôi cứ sốt li bì như vậy hết ngày nọ sang ngày kia nên đơn vị phải gửi tôi lại gia đình Y-cơ. Bác sĩ Lạng để lại cho tôi một lọ thuốc quynin. Tôi vốc từng vốc đưa lên miệng, nhưng cơ thể đã nhờn thuốc. Chắc thân hình tôi lúc ấy hốc hác lắm nên Y-cơ cứ khóc lươi rươi mỗi lần tôi lên cơn sốt. Thế rồi già làng dẫn Y-cơ vào rừng, chỉ cho các loại cây chữa sốt rét, Y-cơ mang về nấu cho tôi uống. Chẳng biết các vị thuốc ấy là loại cây gì, khi uống không đắng như quynin mà ngòn ngọt, chua chua và thum thủm. Cứ uống đều đặn mỗi ngày ba bát dăm ngày sau thì tỉnh tỉnh, ăn được mấy thìa cháo. Thấy thế, Y-cơ vừa múa, vừa hát, vừa làm trò để khích lệ tôi. Lúc đầu tay tôi còn run lắm, không thể cầm được thìa, Y-cơ phải bón cho tôi. Mỗi lần tôi "ực" được thìa cháo là em cười như nắc nẻ, rồi lại múa, lại hát để tiếp tục bón cho tôi...


Quả là thuốc tiên. Một lần tôi hỏi Y-cơ: "Hàng trăm thứ lá trên rừng, em biết lá nào là lá thuốc?". Y-cơ liếc xéo tôi một cái rồi bảo: "Em phải bí mật ngồi dưới một hốc cây, chờ cho mặt trời gần lặn thì những con khỉ mẹ mới bồng con ra hái lá những cây tầm gửi, nó nhai nhai rồi đắp vào lỗ đít của con nó. Thế là em trèo lên hái cành tầm gửi đó đem về nấu nước cho anh uống". Tôi bịt miệng cười. Chắc em đoán được tôi cười gì, nên đấm vào vai tôi, má đỏ ửng, lon ton chạy xuống bếp.


Một tháng sau, đơn vị cho bác sĩ Lạng về đón tôi lên khu căn cứ. Anh Lạng bàn với tôi nên có một vật gì để lại làm kỷ niệm cho Y-cơ. Ngẫm nghĩ hồi lâu tôi bảo: "Trong thời gian em được Y-cơ nuôi dưỡng, cải tử hoàn sinh, em thấy Y-cơ rất thích cái võng. Y-cơ đã bứt dây rừng nằm đu đưa trên ấy. Nhiều lần Y-cơ cứ liếc trộm cái võng của em. Nhưng nếu tặng Y-cơ cái võng thì về cứ em nằm bằng gì?". Suy nghĩ hồi lâu có vẻ lung lắm, rồi như tóm được điều gì trong đầu, anh Lạng đập vào tay tôi bảo: "Không lo! Không lo! Ngày mai các anh Thoong Pèn, Bun Hỏm là Tỉnh ủy viên tỉnh Viêng Chăn I Đông về cứ của ta xem ta cần gì, bạn sẽ cung cấp cho, lo gì chiếc võng của cậu".


Chiều hôm ấy, anh em chúng tôi tạm biệt bà con, tạm biệt gia đình Y-cơ. Mọi người bịn rịn bảo chúng tôi thi thoảng phải về với dân bản Phù Vinh. Căn cứ của chúng tôi ở dưới thung, cách sông Nậm Ngừm chừng hai ngày đường và cách bản Phù Vinh của Y-cơ chỉ dăm độ nghỉ, nên từ đó mỗi lần đi rẫy là Y-cơ lại bí mật để bắp để khoai vào một hốc đá có đánh dấu cho chúng tôi. Vì vậy, trong những ngày địch vây căn cứ, triệt đường tiếp tế của các bản làng, chúng tôi vẫn có đồ ăn.


Hơn một năm sau, năm 1967, Y-cơ lấy chồng. Chồng em là du kích của bản Huội Lức, cách căn cứ chúng tôi chừng hơn ngày đường, nhưng thi thoảng Y-cơ vẫn làm bánh ngô đưa cho chồng mang xuống cứ làm quà cho chúng tôi.


Đầu tháng 6 năm 1968 thì Y-cơ trở dạ. Đã hơn một ngày mà vẫn không đẻ được, trời lại mưa như trút, nước lũ trên các triền núi lao vun vút xuống thung. Chồng Y-cơ phải đánh vật với nước vừa phải luồn lách qua các chốt địch để xuống cứ đón bác sĩ lên đỡ đẻ cho Y-cơ. Vừa được tin là các thủ trưởng cử anh Lạng và tôi lên Huội Lức. Chúng tôi đi ngay trong đêm. Vì đi trong mưa tầm tã, lại phải tránh chốt giặc và do phải đi ngược đường nên mãi chạng vạng ngày hôm sau chúng tôi mới tới nơi. Chúng tôi chạy ào vào chỗ Y-cơ thì trời ơi Y-cơ mới tắt thở chừng mươi phút, người vẫn còn nóng, mắt vẫn còn vương lại sự chờ mong! Tôi và anh Lạng nấc lên từng hồi. Bà mẹ chồng Y-cơ vừa khóc sụt sịt vừa bảo chúng tôi: "Lúc mặt trời chưa khuất hẳn, nó biết nó không thể chờ được các con, nó dặn lại là xé cái võng kia ra làm đôi, cho nó nằm một nửa, cho con nó nằm một nửa".


Chúng tôi khóc òa. Chồng Y-cơ ôm choàng lấy vợ. Mấy anh du kích mãi mới kéo được anh ta ra rồi dìu sang nhà bên. Anh Lạng phải dăm bảy lần cầm dao mới lấy được cháu bé ra. Đó là phong tục của người Mông ở vùng này. Không nỡ để cho Y-cơ nằm nửa cái võng, anh Lạng lấy võng của mình cuộn thằng bé lại.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn