Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

CAO NGUYÊN ĐÁ

Mùa khô năm 1970, trên cao nguyên Bô-lô-ven (Hạ Lào), một trung đoàn quân tình nguyện Việt Nam chiến đấu giải phóng Át-tô-pơ. Trong những ngày ác liệt ấy, người chỉ huy đơn vị gặp Chay-khăm-min – cô gái Lào có gia đình bị thảm sát trong một trận càn. Được bộ đội giúp đỡ, cô dần gắn bó và nảy sinh tình cảm sâu nặng. Trước lúc chia tay, cô xin anh “một người con Việt” như biểu tượng của lòng biết ơn, niềm tin và sự gắn bó thiêng liêng với những người lính Việt Nam. Người chỉ huy từ chối vì trách

Lai Châu02/03/2026Ban Biên tập tổng hợp4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đó là lần duy nhất tôi khóc kể từ khi tôi trở thành người lính. Tôi đã khóc, khóc hu hu và nấc lên như một đứa trẻ. Tiếng khóc của người lính quân tình nguyện Việt Nam đã nhoà trong tiếng khóc một cô gái Lào vào một chiều, khi mà hoàng hôn thăm thẳm thả xuống cao nguyên Bô-lô-ven. Và bây giờ, mỗi khi nhớ đến kỷ niệm ấy, trái tim tôi lại rưng rưng, thầm khóc.


Ngày ấy. Tôi. Người đàn ông bốn mươi tuổi, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 49 rồi chuyển thành Trung đoàn 59 thuộc mặt trận X, do đồng chí Hoàng Kiện làm chỉ huy mặt trận. Đó là trung đoàn chủ lực quân tình nguyện Việt Nam, cùng lớp lớp những người lính tình nguyện của Tổ quốc mình, sang giúp bạn giải phóng đất nước.


Mùa khô năm 1970. Khi mà bước chân tôi đã chạy dọc dãy Trường Sơn, đội mưa bom, xuyên qua bão đạn của kẻ thù, chỉ biết tiến lên và chiến đấu để giải phóng đất nước.


Đất nước mình chưa giải phóng được, cuộc chiến đấu của dân tộc ta ngày một cam go và có phần khốc liệt hơn. Nhận nhiệm vụ của cấp trên, tôi và biết bao nhiêu đồng đội được điều động sang nước bạn Lào làm nghĩa vụ quốc tế, cùng nhân dân các bộ tộc Lào chiến đấu để giải phóng đất nước.


Là anh lính quân sự, chỉ huy đơn vị chủ lực đi đầu trên mặt trận, mở màn mọi trận đánh, tôi đã rèn cho mình một điều, một điều tưởng trừng có lúc tôi đã không thể làm được. Đó là không được khóc trước mặt đồng chí, đồng đội và nhân dân khi có ai đó hy sinh. Nghe đến đây chắc hẳn có nhiều người sẽ nghĩ tôi là người vô cảm, là kẻ vô tâm. Nhưng thú thực lúc xung trận, tôi vẫn thường tự nói với chính mình và đồng đội rằng: "...Hãy nuốt những đau thương ấy vào lòng mà biến nó thành sức mạnh. Nước mắt xin để dành cho ngày chiến thắng...".


Cao nguyên Bô-lô-ven thuộc Hạ Lào, nơi được coi là địa hình chiến lược quan trọng trong quá trình bảo vệ hành lang của mặt trận X.

Lúc đầu tôi vừa là Trung đoàn trưởng, lại vừa là chủ nhiệm pháo mặt trận. Gọi là chủ nhiệm pháo, nhưng đó chỉ là một đại đội pháo mặt trận, duy nhất chỉ có một khẩu 12,5 ly.

Để bảo vệ được hành lang tuyến vận tải chiến lược 559, nhiệm vụ của Trung đoàn chúng tôi là phải chiếm giữ và làm chủ bằng được đường 23, con đường chiến lược chạy từ Đường 9 - Nam Lào xuống cao nguyên Bô-lô-ven đến Pắc Xế.


Cao nguyên Bô-lô-ven như một bông hoa sen đá, nở lên giữa đại ngàn. Bông sen đá ấy được bao bọc bởi những vách núi đá dựng đứng, và từ cao nguyên Bô-lô-ven những con sông nhỏ như: Chăm-pi, Sê-piêng, Sê-nậm-nọi... tựa mái tóc thiếu nữ mười tám đôi mươi, chảy xuống hun hút những vạt rừng bằng Hạ Lào.


Đẹp thì đẹp thế, nhưng đây là địa hình chiến lược, hiểm trở mà địch đang chiếm giữ để bảo vệ sườn phía đông của thủ phủ Nam Lào - Pắc Xế. Là nơi cố thủ vững chắc và có thể tiếp tế bằng không quân, vì trên đó còn có cả sân bay.


Đơn vị chúng tôi sống ở rừng là chủ yếu. Vào mùa khô còn đỡ, chứ vào mùa mưa thì thật là khủng khiếp. Những cơn mưa cứ ràn rạt giội xuống làm đất thối nhũn ra. Mùi rừng, mùi đất, mùi hơi người phảng phất và "quyến rũ" đến nỗi, lũ ruồi vàng, loài rắn và muôn loài cứ chen nhau tìm về, khiến rừng đêm tru lên những âm thanh thật hoang dã.


Ban ngày chúng tôi tổ chức đánh giặc, ban đêm thì rút vào rừng làm công tác tiếp tế lương thực và cấp cứu thương binh. Có những tháng, cả đơn vị không ai được ngủ lấy một tiếng trọn vẹn. Ngày giải phóng Át-tô-pơ đang đến gần.


Tỉnh Át-tô-pơ khi chúng tôi đến thì đúng như lời của đồng chí Hoàng Kiện đã nói trong khi giao nhiệm vụ cho đơn vị. Đó là một vùng mà dân cư rất thưa thớt, sống thu mình và ở rải rác, không tập trung. Được cái, người dân sống thật thà và tin người.


Là chỉ huy, nhưng tôi chỉ biết đánh đấm. Trên chỉ đâu, chúng tôi nghiên cứu mặt trận và đánh ở đấy, chứ thật ra tôi chẳng biết chút tiếng Lào nào cả.

Buổi chiều ngày hôm trước khi đánh cao nguyên Bô-lô-ven, tôi đã trực tiếp cùng cậu Hùng liên lạc và cậu Tiến quân y, đi trinh sát mặt trận. Khi đi đến men con suối Chăm-pi thì gặp Chay-khăm-min đi lấy nước. Chay-khăm-min là tên cô gái người dân tộc La-ve, cô nói tiếng Việt tương đối tốt.


Chay-khăm-min khoảng 20 tuổi, tóc dài. Chẳng biêt có phải do ánh hoàng hôn đang hắt từ dòng Chăm-pi tưới vào mặt cô, hay do tôi chưa từng được nhìn thấy người con gái Lào mà chân chúng tôi ngưng lại.


Môi cô nở nụ cười thật hiền. Nụ cười chỉ đủ mở he hé hàm răng trắng loá trên bờ môi cong đỏ. Chiếc váy được cuốn sát thân khoe ra những đường cong hun hút, và che đi cơ thể nhu nhú, vòi vợi thanh xuân. Cô như hút chúng tôi và thu cả hoàng hôn từ trên cao nguyên Bô-lô-ven đổ xuống thân thể mình, chảy lên khuôn mặt thánh thiện, vòn trên váy áo và ùa xuống dòng Chăm-pi qua cặp chân tròn dài đang hồng lên. Một buổi chiều bình yên ít ỏi của lính chủ lực mặt trận.


Tiếng nói của cô gái bỗng phá tan nỗi nhớ vừa ùa đến bên tôi. Nỗi nhó về người vợ trẻ và những đứa con nơi quê hương đang mong ngóng tôi mau chiến thắng trở về.

- Chào các anh bộ đội Việt Nam!

Vì đã được đồng chí Hoàng Kiện quán triệt, nên chúng tôi hết sức cẩn trọng.

Trận đánh diễn ra đúng ý định. Chỉ sau 6 quả 12,5 ly, đơn vị tôi đã làm chủ trận địa. Như được đà, chỉ sau một ngày, Trung đoàn đã làm chủ cao nguyên Bô-lô-ven và nhanh chóng giải phóng hoàn toàn tỉnh Át-tô-pơ.

Đó là cuối mùa khô năm 1970.

Đêm cuối mùa khô, trăng thả xuống cao nguyên Bô-lô-ven càng đầy hơn. Trên đường đi trinh sát thực địa, đến cuối bìa rừng, sát con sông Sê-piêng thì bỗng nghe tiếng "Xoạt".

Chúng tôi lên đạn, chĩa súng về phía vừa phát ra những âm thanh lạ. Tôi hô:

- Ai! Ra ngay! Ra không tôi bắn!

Từ trong lùm cây. Một cô gái bước ra. Tôi ngỡ ngàng:

- Chay-khăm-min! Sao cô lại ở đây?

Cô không nói gì, chỉ ném về phía chúng tôi cái nhìn rụt rè, đôi má đang mỗi lúc một hồng lên, rồi cô quay mặt bước đi như chạy. Nhìn dáng chạy chênh chếch của cô về phía cao nguyên, khiến chúng tôi đặt ra nhiều câu hỏi. Rằng tại sao Chay-khăm-min lại theo dõi chúng tôi? Hay là...? Hay là...? Rồi chúng tôi cũng chạy theo bước chân của Chay-khăm-min.

Căn nhà sàn nhỏ nằm chênh vênh trên sườn Plô-han thuộc cao nguyên Bô-lô-ven. Chay-khăm-min ngồi bó gối bên bếp. Có lẽ đã phải từ lâu lắm rồi cái bếp nơi cô ngồi chưa được thắp lên một ngọn lửa nào.

Nghe Chay-khăm-min kể mà mặt chúng tôi thay đổi lừng giây. Mắt của hai chiến sĩ đi cùng đỏ hoe, ngấn nước làm đen thẫm tay áo quân phục.

Năm 1968. Địch mở cuộc càn quét đẫm máu trên địa bàn rộng, trong đó có cao nguyên Bô-lô-ven. Hôm ấy vào giữa mùa khô, Chay-khăm-min đi bắt cá dưới suôi Chăm-pi. Những tiếng nổ long trời lở đất cứ liên tục phát ra từ bốn phía, sau tiếng nổ lớn là những tiếng nổ nhỏ, tiếng máy bay gào thét trên bầu trời. Chay-khăm-min sợ quá nên nép vào phiến đá. Dòng nước trong vắt bỗng đỏ ngầu dưới chân Chay-khăm-min. Rồi xác người. Xác người úp, ngửa. Có khi chỉ có lọn tóc, cánh tay... lập lờ cuộn theo dòng Chăm-pi đang gào thét. Cô ngất đi, dòng nước tanh mặn lại làm cô tỉnh lại. Chay-khăm-min hoang hoải, chạy ngã sấp ngã ngửa men theo con suối.


Nhà của cô. Nơi trận càn mới đi qua đỏ loang máu. Cô gào gọi nhưng cha, mẹ cô còn đâu nữa mà trả lời cô. Nơi góc nhà, chị gái của cô mắt trợn ngược, máu tứa tước từ tấm thân không một mảnh vải. Cô ôm lấy chị gái. Chị gái cô vẫn còn sống. Nhưng bây giờ thì...


Tôi đi về phía đôi mắt Chay-khăm-min dừng lại. Một người con gái quắt queo, mặt đang nổi lên những nốt to, mang mủ vàng ệch.

Hoá ra từ hôm gặp chúng tôi ở suối, qua bao nhiêu ngày nay cô đã thầm theo chúng tôi, mong được chúng tôi giúp đỡ mà không dám nói ra. Thế là từ những ngày ấy, tôi cùng anh em đơn vị đã thường xuyên lên thăm, giúp đỡ và chữa bệnh cho chị gái của Chay-khăm-min.


Nhưng vì căn bệnh lạ quái ác mà chị gái của cô đã qua đời sau đó chỉ vài tuần.

Sau đó chúng tôi vận động Chay-khăm-min chuyển đến đơn vị giúp việc cho tổ nuôi quân, nhưng Chay-khăm-min không đi. Thế nên chúng tôi đành phải giúp cô bằng cách cũ. Và những ngày sau đó, mỗi khi tôi đến, Chay-khăm-min luôn nhìn tôi bằng ánh mắt rất lạ.


Mọi việc cứ êm ả trôi qua, nếu không có buổi chiều hôm ấy. Cậu Hùng liên lạc báo với tôi một tin.

- Thủ trưởng ra ngoài cổng doanh trại, có người cần gặp.

Ai nhỉ? Tôi tự hỏi mình như thế. Vì nếu là cán bộ hay quân bưu của đơn vị khác đến thì họ phải trực tiếp vào phòng chỉ huy, chứ sao lại ra cổng?

Những câu hỏi tôi đặt ra cứ cuốn theo bước chân tôi ra phía cổng doanh trại.

Ra đến cổng, tôi không khỏi ngạc nhiên khi nhận ra Chay-khăm-min đang thấp thỏm, đứng cách cổng doanh trại gần một trăm mét.

- Có chuyện gì hả Chay-khăm-min? - Tôi hỏi.

Chay-khăm-mim mặt đỏ ửng, môi mấp máy chẳng nói thành lời, tay chỉ về phía cao nguyên Bô-lô-ven. Tôi nghĩ chắc phải có chuyện gì quan trọng lắm, nên cô mới đến tận đây tìm tôi.

Tôi ra hiệu cho cậu Hùng liên lạc và cậu Tiến quân y, hai người thường xuyên bên cạnh tôi, không cần đi cùng tôi hôm nay nữa.

Chay-khăm-min cứ lầm lũi bước đi. Còn tôi, tôi chưa bao giờ nhìn thấy cảnh hoàng hôn ở đâu đẹp bằng hoàng hỏn trên cao nguyên Bô-lô-ven chiều ấy.

Màu đỏ hoàng hôn thả xuống những dòng sông đang ôm lấy cao nguyên thành những đường cong hồng nhạt. Ánh hồng nhạt ấy như tấm gương chiếu hắt từ mặt sông chĩa lên cao nguyên. "Bông sen đá" ở độ cao hơn một nghìn mét là cả một màu hồng lấp lánh, trong thoang thoảng khói lam chiều.


Đến bờ đá men dòng Chăm-pi thì Chay-khăm-min bỗng dừng lại. Tôi tiến đến gần để xem có chuyện gì mà hôm nay cô bí hiểm thế.

- Trời ơi! Không! Chay-khăm-min!

Tôi kêu lên thất thanh khi cô quay mặt lại. Chiếc váy của Chay-khăm-min đã từ từ rơi ra khỏi thân hình.

Nhanh như cắt. Tôi giật chiếc áo quân phục đang mặc chạy về phía Chay-khăm-min.

Chay-khăm-min ngồi thụp xuống phiến đá, mặt cúi, tiếng nói run run theo những giọt nước mắt lã chã.

- Em chỉ xin anh một người con Việt. x...i...n... a...nh...!

Tôi ôm lấy Chay-khăm-min như ôm một người em gái bé bỏng, trong nước mắt của cả tôi và em. Còn Chay-khăm-min thì khóc nấc lên khi nghe tôi nói về người vợ của tôi, về những đứa con của tôi, về quê hương Việt Nam của chúng tôi và đặc biệt về tình yêu. Tình yêu của người lính quân tình nguyện Việt Nam khi đến với nhân dân Lào anh em.


Chay-khăm-min khóc to hơn và quay mặt nhìn thẳng vào mắt tôi trước khi vụt chạy về phía cao nguyên Bô-lô-ven.

Không biết đến bao giờ tôi có thể quên được ánh mắt nhìn đau đáu của người con gái Lào ở vào khoảnh khắc ấy. Và tôi đã khóc nấc lên.

Sau đó một tuần thì tôi được lệnh trở về Việt Nam nhận nhiệm vụ mới.

Từ đó đến nay đã gần 40 năm. Thời gian 40 năm đã đưa chàng trai 40 tuổi trở thành một ông cụ 80. Và đến bây giờ tôi vẫn tự hỏi mình, rằng tại sao Chay-khăm-min chỉ mong có được một đứa con Việt Nam? Yêu tôi ư? Không hẳn... Đó chắc chắn phải là một cái gì đó bay lên khỏi tình yêu trai gái.


Từ khi về nước, đã bao lần tôi gửi thư cho Chay- khăm-min. Nhưng những lá thư đi chưa khi nào có hồi âm trở lại.

Không biết giờ đây Chay-khăm-min ở đâu? Còn sống hay đã chết? Nếu còn sống thì em có được hạnh phúc không? Nhưng tôi tin chắc một điều rằng, dù còn sống hay đã chết, dù hạnh phúc hay bất hạnh thì cô cũng như tôi, sẽ chẳng bao giờ có thể quên được buổi chiều Bô-lô-ven hôm ấy. Buổi chiều mà giọt nước mắt của cô gái Lào và anh lính quân tình nguyện Việt Nam đã chảy và còn chảy mãi mãi. Chảy dọc theo thời gian năm tháng. Vẹn nguyên như tình cảm của những con người đã sống, đang sổng, sẽ sống và cùng đứng mãi bên nhau.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
CAO NGUYÊN ĐÁ | Câu chuyện thời hoa lửa