Bài viết

Cao trào kháng Nhật

Tây Ninh28/04/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cao trào kháng Nhật

Bài chi tiết: Cao trào kháng Nhật cứu nướcKhởi nghĩa Ba Tơ

Tối 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp trên toàn bán đảo Đông Dương, trong đó có Việt Nam. Sau khi lật Pháp độc chiếm Đông Dương, chính quyền thuộc địa mới của Nhật Bản liền thi hành chính sách mua chuộc, mỵ dân, kết hợp với chính sách đàn áp.

Về chính trị, Đế quốc Nhật Bản tuyên bố trao trả "độc lập" cho Việt Nam, thành lập và bảo hộ Đế quốc Việt Nam, nhưng giữ nguyên bộ máy cai trị của Pháp và thay người Nhật vào vị trí người Pháp. Nhật cho quân đội Thiên Hoàng tấn công vào các chiến khu và cơ sở cách mạng của Việt Minh.

Về kinh tế, Nhật chiếm các cơ sở kinh tế của chế độ cũ, in giấy bạc mới tung ra thị trường, vơ vét tư liệu sản xuất, hàng hóa, lương thực và cướp đoạt tài sản của dân chúng Việt Nam; làm cho nền kinh tế Việt Nam bị kiệt quệ, cuộc sống người dân điêu đứng, cùng quẫn. Giá gạo ở Bắc Kỳ vào tháng 10 năm 1944 còn là 1.150 đồng/tạ, thì đến tháng 2 năm 1945 đã là 1.000 đồng/tạ. Tình trạng đó đã dẫn đến nạn đói Ất Dậu, làm gần 2 triệu người bị chết đói.

Trong cuộc họp kéo dài từ ngày 9 tháng 3 đến 12 tháng 3, Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra chỉ thị "Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta". Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương phát động cao trào kháng Nhật mạnh mẽ và chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa; đồng thời thay đổi hình thức tuyên truyền, thay đổi khẩu hiệu tuyên truyền, tổ chức đấu tranh để thích hợp với tình hình mới.

Phong trào đã diễn ra mạnh mẽ, phong phú về nội dung và hình thức, tấn công Nhật toàn diện trên các mặt chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa... trên khắp các thành thị, nông thôn, và vùng thượng du. Phong trào đã chiếm giữ được nhiều vùng rộng lớn, hình thành nhiều căn cứ cộng sản.

Quân đội Nhật đã mở các cuộc càn quét, bình định, tấn công mạnh vào các vùng của Việt Minh. Quân Việt Minh, các đội dân quân, tự vệ, du kích đã chống trả quyết liệt, bảo vệ căn cứ của họ. Tại các đô thị, các phong trào đấu tranh của công nhân, học sinh, viên chức dâng cao. Nhiều tổ chức công nhân cứu quốc được xây dựng ở nhiều xí nghiệp. Cao trào kháng Nhật hoạt động sôi nổi trên cả nước.

Ngày trong thời điểm này, tổ chức Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương nhiều nơi đã phát động nổi dậy ở một số địa phương: Ngày 10 tháng 3, Ban cán sự Đảng tỉnh Bắc Ninh phát động nổi dậy ở xã Trung Mầu, rồi lan ra khắp huyện Tiên Du, tuyên bố thành lập chính quyền nhân dân.[24] Đêm ngày 11 tháng 3, tổ chức Việt Minh tại Hưng Yên tổ chức tập kích đồn Bần, mở đầu cho các cuộc "phá kho thóc Nhật" trong tỉnh.[25] Cùng ngày, chi bộ Đảng ở căng Ba Tơ (Quảng Ngãi) tiến hành khởi nghĩa, phá nhà lao, thành lập Đội du kích Ba Tơ do Nguyễn Chánh chỉ huy, thành lập chính quyền huyện.[26] Ngày 12 tháng 3, Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ Lê Thanh Nghị cùng Bí thư Ban cán sự Đảng Bắc Giang Nguyễn Trọng Tỉnh trên đường đến Hiệp Hòa, qua Xuân Biều thì phát động khởi nghĩa, thành lập chính quyền.[27][28]

Những sự chuẩn bị cuối cùng

Ngày 15 tháng 4 đến 20 tháng 4 năm 1945, Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tổ chức Hội nghị Quân sự Bắc Kỳ ở Hiệp Hòa (Bắc Giang), do Tổng bí thư Trường Chinh chủ trì. Hội nghị quyết định phát triển lực lượng vũ trang, thống nhất Cứu quốc quân và Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, thành Việt Nam Giải phóng quân, xây dựng trong nước 7 chiến khu: Lê Lợi, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung, Trần Hưng Đạo ở Bắc Kỳ, Phan Đình Phùng, Trưng Trắc ở Trung Kỳ, Nguyễn Tri Phương ở Nam Kỳ. Hội nghị bầu ra Ủy ban Quân sự Cách mạng Bắc Kỳ gồm Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Lê Thanh Nghị, Trần Đăng Ninh để chỉ huy các chiến khu ở miền bắc Đông Dương và giúp đỡ cho toàn quốc về mặt quân sự.[29][30]

Ngày 16 tháng 4 năm 1945, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị về việc tổ chức Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam và Ủy ban Dân tộc Giải phóng các cấp, sẵn sàng chuẩn bị cho việc giành chính quyền. Đến ngày 15 tháng 5, Việt Nam Giải phóng quân chính thức thành lập, bắt đầu tiến hành các hoạt động quân sự ở các tỉnh miền núi vùng đông bắc Bắc Kỳ.[31]

Tháng 5 năm 1945, Hồ Chí Minh từ Pác Bó đến Tân Trào để trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng. Ngày 4 tháng 6, theo chỉ thị của Hồ Chí Minh, Khu Giải phóng Việt Bắc được thành lập trên cơ sở các chiến khu và khu vực được Giải phóng quân giải phóng thuộc 6 tỉnh Cao, Bắc, Lạng, Hà, Tuyên, Thái.[32] Khu giải phóng Việt Bắc là căn cứ địa chính của phong trào cách mạng, cũng là địa điểm để tổ chức hoạt động thành lập Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam, đóng vai trò chính phủ lâm thời sau khi giành chính quyền

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn