Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Cao trào tiền khởi nghĩa – Sức dân dâng như triều bão

Kế thừa truyền thống đấu tranh yêu nước, nhân dân Quảng Ngãi dưới sự lãnh đạo của Việt Minh đã đẩy phong trào cách mạng lên cao trào tiền khởi nghĩa. Lực lượng vũ trang được tổ chức thành hai đại đội tập trung, hệ thống quân nhu – tài chính được củng cố, công tác tuyên truyền và binh vận phát triển mạnh. Khí thế quần chúng lan rộng khắp nông thôn, miền núi và đô thị, làm tê liệt bộ máy ngụy quyền, cô lập quân Nhật, tạo thế và lực sẵn sàng cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Lai Châu03/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Nhân dân Quảng Ngãi đã trải qua nhiều phong trào yêu nước chống Tây. Từ phong trào Cần Vương với cuộc khởi nghĩa Lê Trung Đình (1885), Nguyễn Bá Loan (1885 -1888), Thái Thú (1894), đến phong trào yêu nước màu sắc dân chủ tư sản như: Duy Tân (1904- 1908), cao trào khất thuế (1908 - 1916), cho đến phong trào do Đảng Cộng sản lãnh đạo (1930 - 1931), phong trào đấu tranh dân chủ (1936 - 1939)... qua bao thất bại, bao thăng trầm, nhưng hết đợt này đến đợt khác, như sóng biển đông còn âm vang mãi trong lòng người, với thời gian vô tận.


Từ ngày tiếng súng khởi nghĩa Ba Tơ rền vang đến thôn xóm, như trời hạn được mưa, chồi xanh lại dậy. Nên khi du kích về làng lấy dân làm gốc, lấy rừng người thay cho rừng cây, thì cả lực lượng chính trị và vũ trang song song phát triển như triều dâng.


Đầu tháng 6 năm 1945 Tỉnh ủy họp quyết định chỉnh đốn tên gọi UBVĐCC Quảng Ngãi thành Ủy ban vận động cứu quốc Quảng Ngãi của Tổng bộ Việt Minh, để được thống nhất trong Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh từ trung ương đến địa phương.


Đồng thời ra lời kêu gọi đồng bào các giới ủng hộ lực lượng vũ trang cách mạng, ủng hộ du kích cứu quốc quân. Mặt khác quy định lấy ngày 27 hàng tháng (ngày khởi nghĩa Ba Tơ theo âm lịch) làm ngày động viên quần chúng lập quỹ đặc biệt mua sắm khí giới cho lực lượng vũ trang. Với sức mạnh của nhân dân, với lòng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng, chỉ trong tuần cuối tháng, chúng tôi nhận được đủ thứ cần thiết, nào là xe đạp, đồng hồ, địa bàn, ông dòm, gang, sắt, đồng, nhôm, vải vóc...


Chị em phụ nữ cứu quốc con gửi thêm quà bánh của ngày tết Đoan ngọ 5 tháng 5 âm lịch để úy lạo anh em trên chiến khu.

Cuối tháng 6 ban quân sự tỉnh họp quyết định thành lập hai đại đội tập trung, mỗi đội có từ 3 đến 5 trung đội, lấy tên: đại đội Phan Đình Phùng ở phía bắc và đại đội Hoàng Hoa Thám ở phía nam. Anh Kiệt làm đại đội trưởng đại đội Phan Đình Phùng, anh Chánh kiêm chính trị viên, anh Khoách, anh Thứ làm đội phó. Tôi làm chính trị viên kiêm đại đội trưởng đại đội Hoàng Hoa Thám, anh Đức, anh Dũ làm đại đội phó, sau bổ sung thêm Trần Công Khanh đại đội phó, anh Nhạn, anh Hoa (Niên) làm chính trị viên phó.


Đồng thời tăng cường và mở rộng ban quân nhu tỉnh, do tôi phụ trách chỉ đạo. Đồng chí Trần Hàm (Mộ Đức) làm trưởng ban; các đồng chí Trương Phương (Sơn Tịnh), Đào Du (Bình Sơn) làm phó ban và một số đồng chí của mặt trận đưa qua phụ trách các huyện. Để tăng cường quản lý chặt chẽ và tiếp tế kịp thời khi cơ động chiến đấu, tôi cho in phiếu có đóng dấu của đại đội, giao cho các trung đội, có quy định tiêu chuẩn để mang sẵn, đi đến đâu nhận tiếp tế ở đấy.


Đối với du kích dự bị và tự vệ có quy định trang bị: một ruột nghé dài 1,7 mét hoành 30 phân tây, một đoạn dây dừa dài 2 sải, một cái nồi đồng cho 3-5 người ăn, một cái mền, ba lon gạo rang, một thùng diêm, một cái ca uống núóc, một cái dao phay 7 tấc, chiến sĩ nào nghèo thì do hội Cứu quốc giúp đỡ mua sắm cho đủ. Đồng thời yêu cầu Tỉnh ủy rút bổ sung cho lực lượng một số cán bộ đoàn thể đưa vào làm chính trị viên trong các trung đội tập trung mới thành lập. Các đồng chí Nguyễn Trúng (Nguyễn Duy Phê), cơ sở trung kiên của trung tâm cách mạng ở Ba Tơ từ năm 1943 gặp lại tôi trên căn cứ Núi Lớn, đồng chí Hoàng Minh Thi cũng tuyên thệ gia nhập đội du kích Ba Tơ1 (Bí danh Minh Thi có khi anh thề trước thây cha khi cha bị địa chủ đánh chết) trong dịp này. Và nhiều đồng chí nữa nay đã trở thành cán bộ cao cấp trong quân đội nhân dân. Một số đồng chí khác đã ngã trên chiến trường, trở thành tấm gương chói lọi cho anh em noi theo, vẫn sống mãi trong tinh thần đồng đội bất diệt.


Ảnh hưởng cuộc khởi nghĩa Ba Tơ và phong trào Việt Minh lớn mạnh ở Quảng Ngãi đã lan tỏa rộng rãi trong các tỉnh miền Trung. Các đồng chí bị tù đày ở Buôn Ma Thuột, ở Đắc Tô trở về, hay an trí ở căng Trà Khê được giải thoát, đang phần tán hoạt động nhiều nơi, lần lượt tìm về liên lạc với Quảng Ngãi.


Những lữ khách mới ra tù từ trên xe lửa, hay xe hơi bước xuống tạt vào nhà dân tuy chưa quen biết bao giờ nhưng lân la hỏi thăm việc trồng mía nâu đường... rồi nói thật đi tìm cách mạng Việt Minh thì từ cơ sở sẽ đón đưa đến gặp thượng cấp là việc thường xảy ra. Việc chắp mối liên lạc không khó khăn gì. Vì vậy nên trong khoảng cuối tháng 6 năm 1945 Tỉnh ủy Quảng Ngãi đã trở thành cơ quan liên lạc liên tỉnh và đã triệu tập cuộc hội nghị liên tỉnh, có các đại biểu bảy tỉnh từ Quảng Trị trở vào. Các đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Lê Tự Nhiên, Hồng Xích Tâm, Trần Quê, Nguyễn Khanh... và ngày sau là đồng chí Tố Hữu (người được ủy nhiệm của Trung ương vận động khôi phục Xứ ủy Trung Kỳ) cũng đến kịp. Đồng chí đã thông báo tình hình chung, đánh giá cao cuộc khởi nghĩa Ba Tơ và phong trào Quảng Ngãi. Đồng chí đã truyền đạt tinh thần chỉ đạo của Trung ương lúc này là tập trung sức xây dựng tích lũy lực lượng chính trị và vũ trang chuẩn bị mọi mặt cho cuộc tổng khởi nghĩa. Không nên bộc lộ lực lượng, nhất là lực lượng du kích cứu quốc Ba Tơ và phải hết sức động viên giúp đỡ để phát triển lực lượng càng đông càng mạnh càng tốt. Cũng trong hội nghị này đã cử đồng chí Nguyễn Chí Thanh và Trần Quý Hai làm đại biểu miền Trung đi dự hội nghị Quốc dân đại hội Tân Trào. Đồng thời hội nghị cũng thông qua phương án khởi nghĩa toàn tỉnh của Tỉnh ủy Quảng Ngãi, chuẩn bị kịp thời hành động khi có thời cơ cấp bách không nhận được mệnh lệnh của Trung ương, như trường hợp quân Nhật đầu hàng, hay quân Đồng minh đổ bộ lên miền Nam Trung Bộ... Làng Vĩnh Lộc quê tôi được vinh dự tổ chức và bảo vệ cuộc hội nghị lịch sử này.


Từ khi liên lạc với Trung ương, nhận được nhiều tài liệu, trong đó có bản chỉ thị "Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" của Thường vụ Trung ương, tôi đọc đi đọc lại nhiều lần, lòng tin tưởng được nhân lên gâp bội vì đã bao năm quân thù đánh phá bưng bít thông tin, chỉ từ nhà lao này chuyển cho nhà lao nọ mà nghị quyết Trung ương được quán triệt. Cuộc khởi nghĩa Ba Tơ là sự cảm ứng thành công trong điều kiện như thế. Giờ đây chúng tôi đang chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa, đã được liên lạc với Trung ương, nhất định sẽ trăm phần thuận lợi, trăm phần tất thắng.

Thực hiện chủ trương phương hướng của Trung ương do đồng chí Tố Hữu truyền đạt, Ban chỉ huy quân sự chúng tôi họp, quyết định đình chỉ các trận tập kích quân Nhật đã chuẩn bị. Để gây thêm thanh thế động viên khí thế quần chúng, chúng tôi quyết định đưa lực lượng vũ trang công khai trong quần chúng như hoạt động vũ trang tuyên truyền, diễu hành trước các cuộc mít tinh... Nhân dân thấy lực lượng của mình nuôi dưỡng xây dựng có hàng ngũ chỉnh tề, có trang bị súng gươm đầy đủ, đi đứng rập ràng. Tiếng râm ran khen ngợi xen lẫn tiếng nghẹn ngào nức nở của bà con trong cuộc mít tinh, vì sung suớng, vì thương yêu khi nghe lời thề "Hy sinh vì Tổ quốc" của đoàn quân vang lên trước cờ đỏ sao vàng, từ lâu chưa bao giờ thấy.


Không khí nông thôn đồng bào càng sục sôi, càng hăng hái, bọn tay sai Nhật càng khiếp sợ. Lý hương đang trưng thuế xin đem nộp cho Việt Minh, có tên đề nghị hẹn ngày, hẹn chỗ để Việt Minh đón đường tước đoạt, để chúng có cớ hợp pháp trình báo với cấp trên.


Ta cũng dùng các cơ sở kỳ hào nhân sĩ yêu nước, mang thư của Việt Minh, của đội du kích cứu quốc quân thẳng đến công đường huyện, phủ đưa thư vừa thuyết phục vừa răn đe, các quan huyện lúc này đều vâng dạ xin ủng hộ cách mạng, hoặc xin cho trung lập để có miếng cơm được ngày nào hay ngày ấy, chứ không dám tráo trở hai lòng. Tôi còn nhớ trong cuộc họp của các đồng chí lão thành cách mạng, các vị thân hòa yêu nước thuật chuyện, hình dung rõ tư thế hiên ngang của các cụ đầu tóc điểm sương, chít khăn đen áo dài tiến thẳng vào công đường kéo ghế ngồi đối diện với một tên tri phủ. Trước thái độ lầm lỳ bực túc trở giọng hách dịch mục hạ vô nhơn của tên trỉ phủ, các cụ dõng dạc trả lời: Tôi độc mã đơn thương đường đột đến với ngài là để nói về vận mạng quốc gia tồn vong trong lúc này, cũng như hạnh phúc và sinh mạng của ngài, mong ngài bình tĩnh, xem bức thư này và suy nghĩ cân nhắc hiện tại và tương lai, để chọn một con đường trước vận hội quốc gia dân tộc.

- Xem thư xong mặt ngài bạc phếch trắng dã, tiếng ngài run run: Bấy nay tôi cũng đã từng đọc những tờ truyền đơn, lời hiệu triệu của cụ Nguyễn Ái Quốc. Một con người có chút thức thời như tôi, đã trăn trở suy nghĩ nhiều. Tôi ngồi đây cũng như con bù nhìn để kiếm đồng lương, chứ lòng tôi không còn tin tưởng gì đến chính quyền Trần Trọng Kìm này tồn tại, cũng thấy rõ quân Nhật sắp hết thời, sụp đổ đến nơi rồi. Bên ngoài tôi phải nói lời của quan quyền, trong lòng vẫn ngổn ngang trước ngã ba đường, nhiều khi phó mặc cho thời cuộc, vì biết ai và ai biết cho mình, nên gắng gượng ngậm miệng ăn tiền. Nay được ngài thấu hiểu lòng tôi, ngài thay mặt cho Việt Minh đến với chúng tôi, tôi rất cảm ơn không dám hai lòng. Nhờ ngài báo lại với Việt Minh có việc gì giao cho tôi trong hoàn cảnh này tôi xin hết sức phục vụ. Rất cảm ơn ngài đã thân hành đến đây hội kiến chỉ rõ đường hơn lẽ thiệt...


Đấy cũng là những lời than vắn thở đài của ngụy quyền Trần Trọng Kim trước giờ hấp hối. Nhờ vậy mà có lần một đồng chí tỉnh ủy viên mang bạc lên cho ban tài chính, bị chúng bắt nhưng trước khí thế cách mạng và lời nói đanh thép của cán bộ ta trước mặt tên Lương Trọng Hối, tỉnh trưởng của chính phủ Trần Trọng Kim: "Đây là số tiền của nhân dân ủng hộ Việt Minh, ủng hộ cho đội du kích cứu quốc Ba Tơ. Tôi có trách nhiệm đi giao nộp. Việc xử lý thế nào là tùy ở sự định liệu của ông. Ông sẽ chịu trách nhiệm về việc này với cách mạng". Lời nói có uy thế làm cho tên đứng đầu ngụy quyền một tỉnh phải lo sợ rồi trả lại tự do và tài sản cho cán bộ ta.


Khắp các miền nông thôn ở phía bắc cũng như phía nam và đồng bào miền núi, ban đêm thì hết nơi này đến nơi khác mít tinh quần chúng, kết hợp với tuần hành của tự vệ và du kích cứu quốc quân; ban ngày các bộ phận kết hợp với cán bộ Việt Minh xung phong tuyên truyền ở các chợ, thị trấn. Nhiều khi xông vào cướp diễn đàn của bọn cơ hội quốc gia giả hiệu, để phổ biến chính sách của Việt Minh.


Ngụy quyền tổng xã hoàn toàn tê liệt tan rã, đến xin Vịệt Minh giao triện (con dấu).

Máy bay Mỹ quần đảo bắn phá những chiếc cầu đường sắt, đường quan. Ngoài khơi, những chiếc tàu biển của Nhật trốn chui trốn lủi, nhưng không thoát khỏi bom, rốc-két của máy bay và phóng lôi của tàu ngầm Mỹ bắn cháy. Khói lên ngùn ngụt, gió đông nồm đưa mùi khét lẹt, nồng nặc tỏa khắp đồng quê. Đó đây, những vườn tre bên vệ đường, những toán quân Nhật dừng xe, nằm lăn lóc ngủ ngày để chạy đêm. Những tên lính phòng không bị xích chân bên ô súng cao xạ bên cạnh các đầu cầu xe lửa trên bờ sông Vệ, sông Trà. Với bộ mặt bơ phờ hốc hác, chán chường, không còn cái vẻ kiêu hùng với cặp mắt đăm đăm của đội quân Phù Tang đầu trọc, không còn cái vẻ oai phong kéo xệch lưỡi gươm sát đất, hằm hằm như muốn mổ bụmg, moi gan của bá chủ Đại Đông Á nữa.


Khí thế phong trào Việt Minh thời tiền khởi nghĩa đã tác động đến binh lính ngụy quyền, tự động tìm bắt liên lạc với thanh niên xin tham gia cách mạng. Một cơ sở binh vận quê miền núi Việt Bắc trong hàng ngũ địch, được giao nhiệm vụ canh giữ kho súng Tây ở trại Khê Đỏ, đã mở cửa cho ta lấy súng chở đầy một xe ngựa chạy vào sông Vệ để đưa lên chiến khu.


Trong nhà ngoài ngõ, trên đồng trên phố đâu đâu cũng sôi sục sắp bùng lên bão tố cách mạng, không gì có thể ngăn chặn được.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn