Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

CẦU CAO SA LUNG, MỘT CHỨNG TÍCH LỊCH SỬ CỦA TUYẾN ĐƯỜNG 559

Đây là một chiến dịch nghi binh chiến lược tài tình của Công binh Việt Nam. Ta chủ động xây dựng một cây cầu gỗ hiện đại, tải trọng lớn ngay sát giới tuyến để thu hút toàn bộ sự chú ý, theo dõi của tình báo Mỹ - Ngụy. Trong lúc địch tập trung quan sát "mục tiêu lộ liễu" này, quân ta đã bí mật xẻ dọc rừng già phía Tây Quảng Bình, mở thành công hàng trăm km đường Trường Sơn mà địch không hề hay biết. Cầu Sa Lung chính là "bức bình phong" hoàn hảo để khởi đầu cho mạch máu giao thông huyền thoại sau

Lai Châu12/02/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Trong lịch sử đánh giặc ngoại xâm, cha ông chúng ta đã có nhiều hình thức đánh lừa kẻ địch.

Trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước, nhiều chiến thuật nghi binh cũng đã được tiến hành đạt hiệu quả. Trong bài viết ngắn này, tôi xin kể câu chuyện nghi binh làm cầu Sa Lung, Vĩnh Linh để bộ đội ta mở đường vào phía tây tỉnh Quảng Bình vượt dãy Trường Sơn.


Tóm tắt sự kiện như sau:

1. Giữa năm 1962, theo yêu cầu của Cục Tác chiến Cục Công binh, Bộ Tổng Tham mưu cử đồng chí Trần Tất Thắng, Tham mưu trưởng và một số trợ lý Ban Nghiên cứu đi khảo sát giới tuyến phía Bắc. Rất tiếc cho đến nay, tôi vẫn không rõ trên Bộ, vị tướng nào đã chỉ đạo việc này.


Đoàn hành quân theo đường sắt, tiếp đó đi bộ vào phía nam, gặp một con sông trên bản đồ có tên gọi sông Bến Xe, một nhánh của sông Bến Hải, có một cầu sắt bị phá hoại, chỉ còn lại hai mố cầu, bản đồ ghi tên là cầu Sa Lung. Đồng chí Cục trưởng Cục Tác chiến quyết định giao nhiệm vụ cho công binh nghiên cứu bắc một cây cầu qua sông với điều kiện:

- Vật liệu bằng gỗ

- Tải trọng cho xe 10 tấn

- Thời hạn sử dụng từ 2 đến 3 năm

- Yêu cầu phải giữ bí mật ý định làm cầu.


2. Triển khai của Cục Công binh:

Cục giao nhiệm vụ cho Ban Nghiên cứu làm cầu theo dạng cầu quân sự của quân đội Liên Xô trong đại chiến thứ hai. Hai cán bộ được Cục trực tiếp giao nhiệm vụ là Phan Thanh Vân, trung uý chịu trách nghiệm các quan hệ; và tôi - Nguyễn Xuân, kỹ sư thiết kế và tổ chức thi công.


Cục Công binh đã điều động một tiểu đoàn của Trung đoàn 98, trực thuộc Cục Công binh gồm 2 đại đội phục vụ thi cóng cầu. Cục cấp đủ các máy móc thi công cầu và dụng cụ làm mộc tốt nhất lúc đó như: máy phát điện 50 kw, máy Pec 15 làm mộc, máy cưa IFA của Đức để xẻ gỗ, máy đầm, máy đóng cọc C254...


3. Thông qua phương án và tổ chức thi công:

Sau khi nhận nhiệm vụ, tôi đã thiết kếhai phương án:

- Phương án 1: Làm cầu quân sự nhịp đơn giản phải đóng xuống sông 15 hàng cọc để bắc các dầm cầu, phương án này bất lợi là khi có lũ về thì sông bị tắc dòng chảy, nguy hiểm cho cầu.

- Phương án 2: Thiết kế kiểu cầu dàn, nhịp dài, nhưng kích thước cầu lại rất lớn, khó giữ bí mật.

Sông rộng 60 mét, chia thành 3 nhịp, mỗi nhịp 20 mét thiết kế với trục xe 10 tấn và xe xích 30 tấn. Khối lượng gỗ thành khí 150 mét khối.

Trình phương án thiết kế lên Cục Tác chiến, phương án 2 được phê chuẩn, với yêu cầu thi công nhanh, giữ bí mật ý định làm cầu đến phút cuối cùng.


4. Tổ chức thi công:

Với lực lượng 2 đại đội, chia làm 2 mũi.

Một mũi chuyên khai thác gỗ trong rừng Bãi Hà, tây Vĩnh Linh. Số lượng 300 cây gỗ lim, đường kính từ 20 đến 40 cen ti mét, dài 4 đến 5 mét, tự vận chuyển ra khỏi rừng.

Mũi thứ hai dùng cưa EFA xẻ gỗ và tổ chức chế biến thành các thanh dầm cầu theo thiết kế, thời gian trong 3 tháng.

Chúng tôi chọn vị trí tổ chức công trình ở thượng lưu cầu chừng 3 ki lô mét trong một khu rừng kín, máy bay địch không thể phát hiện được. Chọn ngày N chính thức khởi công, đóng cọc chân cầu. Đó là một ngày thời tiết mưa dầm, mây mù.

Dùng búa đóng cọc C254 nhiên liệu diezel, có khối lượng quả búa 600 ki lô gam, tổ chức đóng 24 cọc trên sông trong hai ngày. Từ ngày N+3 thì dùng thuyền gỗ vận chuyển các nhịp cầu xuôi theo dòng sông trôi về đến cầu.

Dùng giá búa tời của máy đóng cọc, kéo nhịp cầu bắc lên trụ cầu. Ngày N+5 đã bắc xong 3 nhịp cầu. Sau đó công binh Lữ đoàn 341 đóng tại Vĩnh Linh cho lắp đặt hai đầu cầu và cho xe chở vật liệu qua cầu sang xây dựng công trình tại cao điểm 74 ở bờ Nam. Thời gian sử dụng cầu từ tháng 9 năm 1962 đến cuối năm 1965, khi đế quốc Mỹ dùng máy bay đánh phá Vĩnh Linh thì cầu bị hỏng.

Sau đó, công binh Quân khu 4 đã tranh thủ tháo dỡ phần gỗ đưa ra xây dựng cống sự tại đảo Cồn Cỏ.

Cấp trên tuyên bố: cầu cao Sa Lung đã hoàn thành nhiệm vụ.

Chấp hành nghiêm túc lệnh của trên, Ban Nghiên cứu Cục Công binh đã thí nghiệm một kiểu cầu theo kiểu cầu cao của Liên Xô, nhưng lại chọn địa điểm gần địch và cầu được sử dụng một thời gian. Kẻ địch bên kia giới tuyến tập trung quan sát, theo dõi các hành động của ta. Trong lúc đó, ta bí mật theo đường phía tây Quảng Bình Bang, Làng Ho,... sang phía tây Trường Sơn. Khi địch phát hiện thì ta đã mở sâu được hàng trăm ki lô mét đường, địch chỉ còn cách rải chất độc lảm trụi lá cây để tìm đường đi của quân ta.


Việc làm cầu cao ở Sa Lung là một hình thức nghi binh chiến lược rất khôn khéo, khoa học, rất hiện đại. Tôi nghĩ cũng cần tổng kết và ghi vào lịch sử của tuyến đường Trường Sơn thời chống Mỹ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn