Câu chuyện 275
Các con ạ, thi thoảng ngồi bên bờ sông Lam, nhìn nước chảy cuộn đỏ phù sa, lòng tôi lại quay về cái thời bom đạn xé trời. Hồi đó, cái huyện Thanh Chương mình đâu có yên bình như chừ.
Cái nhà nhỏ của tôi ở xã Thanh Lĩnh lúc nào cũng bận rộn. Ban ngày thì làm đồng, ban đêm thì nhà trở thành 'trạm không số'. Tôi nhớ nhất là những đêm mưa tầm tã, nghe tiếng gõ cửa nhè nhẹ của các chú bộ đội hành quân qua phà Dùng. Thương lắm! Các chú còn trẻ quá, mặt mũi lấm lem bùn đất nhưng ánh mắt sáng rực. Tôi cùng mấy chị em trong hội phụ nữ xã lại hối hả nhóm bếp, đồ xôi, gói bánh chưng cho kịp lúc trời hừng sáng để các chú mang theo vào Nam. Lửa bếp đỏ rực, tay tôi thoăn thoắt gói bánh mà lòng cứ cầu mong cho các con mình ở chiến trường cũng được một bữa cơm ấm bụng như thế.
Rồi tin dữ ập đến. Thằng cả hy sinh ở Quảng Trị. Khi nỗi đau chưa kịp nguôi, tấm giấy báo tử thứ hai lại gửi về. Thằng út cũng đi rồi... Lúc ấy, trời đất như đổ sụp dưới chân tôi. Tôi chạy ra bến sông, nhìn dòng nước mà không khóc nổi thành lời.
Nhưng rồi, nhìn thấy ông Hợi – cái ông thương binh ở xã Thanh Mỹ bên cạnh ấy – mất một chân mà vẫn chống gậy lên đồi chè, miệng vẫn cười bảo phải làm cho đất nở hoa để không phụ lòng người đã khuất, tôi lại gạt nước mắt mà đứng dậy.
Ngày người ta trao cho tôi tấm bằng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, đôi tay già nua này run lên bần bật. Tôi chạm vào từng nét chữ, cảm giác như đang chạm vào da thịt của các con mình. Tôi không hối hận. Đất Thanh Chương mình vốn 'nhát cuốc nhát cày', con người cũng cứng cỏi như đá hộc. Các con tôi đi để mảnh đất này được xanh màu chè, để dòng sông Lam mãi mãi thanh bình. Rứa là tôi mãn nguyện rồi.



