Câu chuyện 361
TIẾN VỀ SÀI GÒN
Mười năm nếm mật nằm gai, gội mưa bom bão đạn giữa sình lầy Rừng Sác.
Những người lính đặc công đã quen với việc tàng hình dưới nước, quen với nhiệm vụ phá hủy, giật sập, thiêu rụi.
Nhưng đến mùa xuân năm 1975 lịch sử, họ nhận một mệnh lệnh hoàn toàn ngược lại, một nhiệm vụ mang tính sống còn quyết định vận mệnh của cả chiến dịch: Không được phá, mà phải cứu những cây cầu.
Cuộc chiến cuối cùng đã bắt đầu.
Những chiến sĩ Đặc công Rừng Sác trở thành mũi thọc sâu dẫn đường cho những binh đoàn xe tăng rầm rập tiến thẳng vào hang ổ cuối cùng của kẻ thù.
Sau chiến thắng Phước Long, nhận thấy thời cơ đã đến, Bộ Chỉ huy Quân Giải phóng miền Nam quyết định thành lập Sư đoàn 2 Đặc công.
Đội hình gồm 7 trung đoàn (trong đó có Đoàn 10 Rừng Sác), được bố trí thành 6 mũi thọc sâu vây quanh Sài Gòn - Gia Định.
Khẩu hiệu hành động lúc này là: "Vùng ven là nhà, kho tàng bến cảng sân bay là trận địa, Sài Gòn – Gia Định là quyết chiến điểm".
Ban đầu, nhiệm vụ của họ là bằng mọi giá phải phá sập 20 chiếc cầu có ý nghĩa chiến lược bao quanh Sài Gòn để cắt đứt đường chi viện của địch.
Thế nhưng, khi chiến thắng Buôn Ma Thuột rung chuyển miền Nam, chiến dịch Hồ Chí Minh mở màn thần tốc, mệnh lệnh thay đổi 180 độ:
Phải giữ nguyên vẹn các cây cầu chờ đại quân tiến vào.
Tình thế vô cùng nghẹt thở. Tại khu vực Bến Gỗ sát cầu xa lộ Biên Hòa, Trung đoàn 116 (E116) đã chôn sẵn 1 tấn thuốc nổ, chỉ chờ lệnh là bấm kíp.
Lệnh mới ban xuống, các chiến sĩ đặc công lại hì hục cắn răng moi từng khối thuốc nổ lên.
Cùng lúc đó, bọn tướng lĩnh Quân đoàn 3 ngụy lại ra lệnh cho các đồn bót gài mìn, sẵn sàng giật sập cầu khi xe tăng Giải phóng xuất hiện.
Trận chiến giành giật từng nhịp cầu bắt đầu.
Ở cánh đông, dưới sự chỉ đạo của Quân đoàn 2, lực lượng đặc công nhận nhiệm vụ đánh chiếm từ Sông Buông, cầu Đồng Nai, Rạch Chiếc đến cầu sông Sài Gòn.
Đêm 26/4/1975, đội hình Trung đoàn 116 phải chạy băng ngang qua những cánh đồng trống dưới tầm quan sát của phi cơ địch y như thời kỳ Mậu Thân 1968.
Đến 20 giờ, Tiểu đoàn 19 bất ngờ nổ súng đánh chiếm và chốt giữ cầu Đồng Nai.
Cùng lúc, một cánh đặc công thủy bí mật lặn dưới sông đã kịp thời ngăn chặn, không cho lính ngụy bấm điện giật mìn phá sập cầu.
Những ngày sau đó, để bảo vệ đầu cầu, bộ đội đặc công phải hứng chịu sự phản kích điên cuồng của lính ngụy.
Ngày 28/4, 5 chiếc xe tăng M48 của địch từ cổng số 9 Long Bình mở đường máu bò ra định vượt cầu xa lộ. Không hề nao núng, các chiến sĩ dùng B40, B41 nã đạn, diệt gọn cả 5 chiếc không cho thoát một tên.
Tại cầu Rạch Chiếc, máu đã đổ thành dòng. Tiểu đoàn 81 Thủ Đức cùng các đơn vị biệt động (Z) đã đánh bại tiểu đoàn địch cố thủ, chiếm giữ cầu từ đêm 27/4.
Để bảo vệ tuyến đường độc đạo này cho đại quân tiến vào, hơn 50 cán bộ, chiến sĩ của ta đã anh dũng hy sinh.
Sáng 29/4, địch điên cuồng phá sập cầu Sông Buông hòng cản bước tiến của ta.
Lữ đoàn 203 xe tăng của Quân Giải phóng phải khắc phục hậu quả, tiến dần theo Quốc lộ 15 về hướng Bến Gỗ.
Trong sương mù khói lửa, xe tăng ta vừa chạy vừa quét đạn xối xả ra hai bên đường, dội cả vào đội hình Trung đoàn 116 đang chốt giữ.
Tại ngã ba Bến Gỗ, cạnh nhà thờ Tin Lành, bộ đội đặc công hô to mật khẩu: "Hồ Chí Minh!".
Đáng lý bên xe tăng phải đáp là "Muôn năm!", nhưng do anh em nhớ nhầm mật khẩu cũ ở Bình Thuận nên đáp lại: "19 tháng 5!".
Tưởng là xe tăng địch cải trang, tổ B40 của đặc công lập tức siết cò bắn liền 2 phát. Rất may mắn là cả hai quả đạn đều sượt qua không trúng mục tiêu.
Khi hai bên nhận diện lại và hô đúng mật khẩu, những người lính vứt vội vũ khí, nhảy ra khỏi công sự và ôm chầm lấy nhau giữa mưa bom bão đạn.
Ngay sau đó, Tư lệnh đặc công Năm Dương tự tin tuyên bố với Lữ trưởng xe tăng:
- Tôi trước kia là quân báo hoạt động công khai nội thành nhiều năm ở Sài Gòn, khá rành đường đất... Tôi cho Trung đoàn đặc công bám theo xe tăng thay thế bộ binh.
Gần 100 chiếc xe tăng, thiết giáp cõng trên lưng những chiến sĩ đặc công Rừng Sác rầm rập tiến về thủ đô của ngụy quyền Sài Gòn.
Trung đoàn trưởng Tám Sĩ ngồi xe số 3, Tư lệnh Năm Dương ngồi xe số 6 dẫn đầu đội hình xé gió lao đi.
Sáng 30/4, đội hình thần tốc dọn sạch các ổ đề kháng cuối cùng. Những chiếc xe tăng đi đầu húc đổ cổng sắt Dinh Độc Lập.
Đồng chí Bùi Quang Thận vác lá cờ Giải phóng lao vào cổng chính, cùng lúc đó, hai cán bộ đại đội đặc công là Phạm Duy Đô và Phạm Huy Nghệ cũng vác cờ chạy ùa qua phía cánh trái.
Lá cờ ba sọc của ngụy quyền bị vứt xuống tơi tả.
Đúng 11 giờ 30 phút, lá cờ đỏ sao vàng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, đánh dấu thời khắc chấm dứt cuộc chiến tranh trường kỳ.
Ngay trong tòa nhà, Tư lệnh đặc công Năm Dương, Chính ủy Tùng cùng Lữ trưởng Tài và các cán bộ chỉ huy bước vào phòng khánh tiết.
Tổng thống ngụy Dương Văn Minh đứng chờ sẵn, khẽ nói: "Tôi chờ các ông đến để bàn giao". Lời đáp lại đanh thép của Quân Giải phóng vang lên: "Các ông không cần bàn giao. Phải đầu hàng vô điều kiện".
Bên ngoài, người dân Sài Gòn đổ ra đường vây quanh Dinh Độc Lập reo hò đón mừng quân chiến thắng.
Lính ngụy vứt bỏ súng đạn, quân phục rằn ri ngổn ngang dọc Xa lộ Biên Hòa đến Hàng Xanh.
Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đã kết thúc. Những người lính đặc công từ Rừng Sác sình lầy đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử.
Chiến tranh đã khép lại, nhưng có những vết thương khó có thể kéo liền da non.



