Câu chuyện 375
NỮ TÌNH BÁO VIÊN, ANH HÙNG LLVT NHÂN DÂN NGUYỄN THỊ BA
Nguyễn Thị Ba sinh năm 1917 tại xã Hựu Thạnh, huyện Đức Hòa, tỉnh Tân An (nay là tỉnh Long An) trong một gia đình nông dân giàu truyền thống yêu nước.
Sớm giác ngộ cách mạng, năm 1935 khi vừa tròn 18 tuổi, bà theo 2 anh trai tham gia hoạt động trong "hội kín" với nhiệm vụ canh gác, bảo vệ các cuộc hội họp. Đến tháng 5/1936, bà vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản, hăng hái hoạt động trong các hội ái hữu và Hội Nông dân Đỏ.
Năm 1940, bà trực tiếp tham gia chuẩn bị cho cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ; sau khi cuộc khởi nghĩa bị đàn áp dã man, bà cùng đội du kích rút vào vùng sâu Đức Huệ mở công binh xưởng sản xuất vũ khí, một mình lặn lội đi khắp nơi tìm mua diêm sinh về chế tạo thuốc nổ.
Đầu năm 1941, bà kết hôn cùng người đồng chí thân thiết Trần Văn Phước, nhưng chỉ vài tháng sau, cả chồng và anh trai bà đều bị địch bắt bạt xứ đày ra Côn Đảo. Không khuất phục trước nghịch cảnh, năm 1943, bà kết nối liên lạc với Giáo sư Trần Văn Giàu và làm giao thông liên lạc cho Xứ ủy Nam Kỳ dưới sự chỉ đạo trực tiếp của ông.
Sau Cách mạng tháng 8/1945, bà đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong bộ máy Hội Phụ nữ từ Sài Gòn-Gia Định đến Tân An, Mộc Hóa. Đến tháng 7/1954, sau khi chồng đã tập kết ra Bắc từ năm 1952, nghe theo tiếng gọi và sự phân công bám trụ lâu dài của tổ chức, bà nuốt nước mắt gửi lại hai con nhỏ (con gái 5 tuổi và con trai 2 tuổi) nhờ chị chồng nuôi dưỡng để ở lại miền Nam tiếp tục chiến đấu trong lòng địch.
Sau lớp Chỉnh huấn năm 1954, bà được điều về Ban Nghiên cứu (cơ quan tình báo) của Xứ ủy Nam Bộ, hoạt động dưới sự dìu dắt trực tiếp của đồng chí Mười Hương. Trước những lời dặn dò nghiêm khắc về cạm bẫy, hiểm nguy và sự cám dỗ xa hoa của ngành tình báo, bà kiên định trả lời: "Dù có rơi vào hoàn cảnh nào, dù có phải hy sinh, mất mát đến đâu, tôi cũng không nản chí, sờn lòng".
Giai đoạn 1954-1959, bà lăn lộn qua các tuyến giao thông nguy hiểm từ Cà Mau đến Hồng Ngự (Châu Đốc). Đến năm 1959, bà chính thức thâm nhập vào nội thành Sài Gòn dưới vỏ bọc một người buôn bán hàng rong để làm nhiệm vụ chuyển tài liệu và truyền đạt chỉ thị.
Giữa năm 1961, sau 1 tháng được huấn luyện chính trị và nghiệp vụ kỹ lưỡng tại căn cứ Phú Hòa Đông (Củ Củ), tổ chức đã tin tưởng trao cho bà sứ mệnh tối mật: làm đầu mối giao thông kết nối duy nhất cho điệp viên huyền thoại Hai Trung (Thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn) ở nội đô.
Suốt 14 năm ròng rã (1961-1975), bất kể mưa gió, bệnh tật hay những thời điểm chiến sự leo thang khốc liệt nhất, Nguyễn Thị Ba đã thực hiện an toàn tuyệt đối gần 500 chuyến giao thông tình báo hỏa tốc. Để xóa sạch dấu vết và qua mặt mạng lưới mật vụ sừng sỏ dày đặc của Mỹ - Ngụy, địa điểm gặp gỡ giữa bà và Phạm Xuân Ẩn liên tục được thay đổi khắp các ngõ ngách Sài Gòn.
Tài liệu, phim ảnh tối mật được bà khôn khéo ngụy trang dưới đáy giỏ xách, giấu trong những bó rau, hũ mắm mộc mạc của gánh hàng rong để vượt qua các trạm gác kiểm soát nghiêm ngặt. Với trí nhớ thiên phú và tinh thần kỷ luật thép, bà luôn xây dựng sẵn các phương án đối phó nhạy bén cho mọi tình huống, trong đó phương án cuối cùng bất đắc dĩ luôn là "tự sát, thủ tiêu tài liệu" chứ quyết không làm lộ cơ sở và đồng đội. Sự kiên cường của bà đã khiến Thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn sau này phải vô cùng khâm phục, kính trọng gọi bà là người chị, người đồng chí vĩ đại đã hy sinh cả gia đình vì đại cuộc.
Nỗi đau xa chồng, xa con kéo dài hơn 20 năm được bà nén chặt thành ý chí chiến đấu. Trong những ngày Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử diễn ra sục sôi, dù tuổi đã cao, sức đã yếu, bà vẫn kiên cường bám trụ trận tuyến, dẫn đường đưa đón cán bộ ra vào nội đô Sài Gòn, góp công lớn vào ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Ghi nhận những cống hiến phi thường và phẩm chất cao đẹp đó, ngày 15/1/1976, bà vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.



