Câu chuyện 395
CUỘC TRUY KÍCH 270KM
Sau trận Sốp Hào, Lê Trọng Tấn trở về nước. Nhưng ông chưa kịp nghỉ lâu. Một nhiệm vụ lớn hơn đã được đặt ra: mở Chiến dịch Thượng Lào, phối hợp với Quân giải phóng Pa-thét Lào, đánh vào Sầm Nưa.
Trong tính toán của Pháp, Sầm Nưa là chỗ dựa quan trọng để khống chế vùng Thượng Lào, che chắn cho Luông Pha-băng, Xiêng Khoảng, đồng thời giữ thế uy hiếp sang Tây Bắc Việt Nam.
Bộ đội ta và bộ đội bạn tiến theo ba mũi.
Mũi tiến công chủ yếu gồm các Đại đoàn 312, 316, 308, theo đường số 6 sang Sầm Nưa.
Với Lê Trọng Tấn, đây là một chiến dịch đặc biệt. Ông chỉ chỉ huy quân mình và phải phối hợp với bạn Lào, chiến đấu trên đất bạn, trong một địa bàn xa, đường hành quân dài, hậu cần khó, thông tin liên lạc phức tạp.
Đặc biệt, mục tiêu Sầm Nưa lại được bố trí như một tập đoàn cứ điểm.
Lê Trọng Tấn đặc biệt chú ý: ta chưa có pháo tầm xa, chưa có pháo phòng không mạnh.
Nếu đánh vào một tập đoàn cứ điểm mà địch còn sân bay, còn máy bay tiếp tế, còn đường rút, thì chiến đấu sẽ rất khó.
Vì vậy, trong kế hoạch, việc khống chế sân bay Sầm Nưa có ý nghĩa then chốt.
Từ đầu tháng 12 năm 1952, tướng Sa-lăng đã sang Luông Pha-băng để trấn an vua Lào, cam kết quân Pháp sẽ giữ Sầm Nưa.
Trung đoàn 209 vào trinh sát sân bay Sầm Nưa. Anh em đã lần vào rất sát, lấy được cả bẫy mìn, đồ hộp.
Có tin về một tên dẫn đường cho ta đã ra hàng địch. Sau này ta bắt được tên phản bội này ở Thái Nguyên.
Việc trinh sát phải tạm ngừng để rút ra an toàn.
Nhưng Bộ chỉ huy nhận định: tuy địch rêu rao nhiều, thực chất chúng chưa nắm chắc ta sẽ đánh đâu là chính. Chúng vẫn phân vân giữa Sầm Nưa và Nà Sản.
Chính sự phân vân ấy là chỗ ta còn có thể khai thác.
Kế hoạch được xác định: tranh thủ thời gian, giữ bí mật tối đa, nhanh chóng tiến vào Sầm Nưa, bao vây địch, ngăn không cho chúng tăng viện hoặc rút lui.
Dự kiến trong đêm 14 rạng 15 tháng 4, ta khống chế sân bay, bao vây thị xã Sầm Nưa; đến chập tối ngày 17 thì công kích.
Nhưng chiến tranh luôn có những điều không báo trước.
Khi Lê Trọng Tấn cùng đại đoàn vừa về đến Mộc Châu, cũng là lúc đơn vị lên đường, thì nhận tin: Địch đã rút khỏi Sầm Nưa.
Ngày 13 tháng 4 năm 1953, chúng bắt đầu bỏ chạy. Nhiều người cho rằng cơ hội tiêu diệt địch đã hết.
Nhưng Bộ chỉ huy chiến dịch không nghĩ vậy.
Địch rút khỏi công sự, tinh thần sẽ càng rối. Đường rút của chúng rất dài. Từ Sầm Nưa về đường số 7, Bản Ban, Lát Bua là quãng đường khoảng 270km.
Nếu ta đuổi kịp, ta vẫn có điều kiện tiêu diệt chúng trên đường rút.
Bộ chỉ huy hạ quyết tâm: truy kích đến cùng, tiêu diệt toàn bộ quân địch rút lui.
Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh cho các đơn vị: tổ chức những đơn vị gọn nhẹ, nhanh chóng đuổi kịp, tiêu diệt cho bằng được.
Lúc ấy, bộ phận đầu của quân ta đã xuất phát chậm hơn bộ phận đi cuối của địch tám giờ, và chậm hơn bộ phận đi đầu của chúng mười chín giờ.
Thời gian lúc ấy chính là lực lượng.
Tiểu đoàn 888 bám ngay phía sau địch. Trong đêm, tiểu đoàn đuổi kịp bọn đi sau, nổ súng, bắt gọn một số ngụy quyền tỉnh, trong đó có tỉnh trưởng, tỉnh phó, chánh án tỉnh Hủa Phăn, huyện trưởng huyện Sốp Hào cùng 40 tên ngụy Lào.
Sáng hôm sau, đơn vị đi đầu của Trung đoàn 98 tiến sát Nà Noọng, nơi có cơ quan chỉ huy phân khu Sầm Nưa.
Đơn vị đi đầu của Trung đoàn 98 vừa chạm địch, vừa báo cáo, vừa tổ chức tiến công ngay.
Lúc đầu, địch hoang mang. Nhưng khi thấy quân ta còn ít, chúng quay lại chống cự.
Trung đoàn trưởng 98 nghe tiếng súng biết ta đã chạm địch, tổ chức một đại đội men theo đường mòn vượt qua Nà Noọng chặn đầu, một đại đội xuyên rừng đi tắt qua Bản Mèo, chẹn không cho địch rút về Mường Pơn.
Đến trưa ngày 14, trận đánh kết thúc. Ta diệt 58 tên, bắt sống 228 tên. Nhưng một bộ phận do tên Thun Man-pô-lát chỉ huy vẫn rút được về Mường Pơn.
Ở cánh nam, Đại đoàn 304 tiêu diệt vị trí Noọng Hét. Gần nửa tháng trời, ta và bạn bắt thêm khoảng 300 tên, trong đó có viên tri châu Sầm Tớ.
Ngày 19 tháng 4, quân ta tiến vào thị xã Xiêng Khoảng, tiếp tục truy kích các bộ phận địch còn lại.
Những đòn đánh dồn dập làm kế hoạch rút quân của Pháp rối tung.
Chúng định rút Sầm Nưa về tăng cường cho Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng - Bản Ban.
Nhưng khi Sầm Nưa bị tiêu diệt, khi các đường rút bị bẻ gãy, khi các mũi của ta và bạn Lào đồng loạt tiến công, địch buộc phải tính đường rút quân về Nà Sản sang đồng bằng Bắc Bộ, biến Cánh Đồng Chum thành một tập đoàn cứ điểm mới.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt và làm tan rã 2.800 quân trong số 11 tiểu đoàn địch, giải phóng một vùng đất đai rộng lớn gồm toàn tỉnh Sầm Nưa, một phần tỉnh Xiêng Khoảng và một phần tỉnh Luông Pha-băng.
Bộ đội ta và bạn Lào chuyển sang nhiệm vụ mới: cùng bạn xây dựng vùng giải phóng, xây dựng căn cứ địa mới của cách mạng Lào.
Với Lê Trọng Tấn, những ngày sau chiến thắng để lại nhiều ấn tượng sâu sắc.
Bộ đội ta cùng các bạn Lào tổ chức những đội vũ trang tuyên truyền đi dọc bờ sông Mã, sông Chu.
Anh em vừa cầm súng, vừa học những bài hát, những điệu múa, những hoạt cảnh nói lên tình đoàn kết giữa hai dân tộc Việt - Lào cùng đánh kẻ thù chung.
Ở những chùa chiền, bộ đội vào lễ Phật, thăm các vị sư sãi. Có nơi, anh em mở lò rèn, giúp dân có công cụ cầm tay để khôi phục sản xuất.
Hậu phương cũng dốc sức cho chiến dịch.
Trong chiến dịch này, ta huy động hơn 30.000 dân công, hơn 2.000 xe đạp thồ, hơn 800 thuyền của các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Phú Thọ, Yên Bái, Hòa Bình, Vĩnh Phúc.
Nhân dân đưa sang đất bạn gần 5.000 tấn gạo, hơn 100 tấn muối, hơn 100 tấn rau khô, 100 con trâu, 2.000 con bò.
Có những đoàn dân công đi suốt 60 ngày đêm không rơi rớt người nào. Có đoàn xe thồ Thanh Hóa mỗi xe trung bình chở 80 ki-lô-gam, có xe chở tới 170 ki-lô-gam.
Khi địch ném bom trúng đội hình, anh em vẫn lao vào cứu xe, cứu gạo. Khi địch rút, bộ đội truy kích, dân công lại xung phong thồ gạo xuống Mường Hạm.
Đất mẹ đã tiếp cho chiến dịch sức mạnh vật chất và tinh thần. Còn nhân dân Lào thì đón bộ đội Việt Nam như người thân.
Cuộc mít tinh mừng chiến thắng ngay tại thị xã Sầm Nưa thật đông vui, nhộn nhịp.
Cuộc mít tinh kết thúc. Tiếng nhạc dịu dàng vang lên. Điệu múa Lăm-vông bắt đầu. Một đoàn thiếu nữ Lào quàng lên vai những người lính Việt Nam vòng hoa Chăm-pa, buộc vào cổ tay những sợi chỉ chúc phúc.
Nhân dân Lào đã coi những chiến sĩ Việt Nam như con em mình.
Với Lê Trọng Tấn, đó là chiến thắng của lòng tin giữa hai dân tộc, của tình đoàn kết Việt - Lào trên cùng một chiến hào.
Nhưng phía trước, chiến tranh chưa dừng lại.
Sau Thượng Lào, quân Pháp càng hiểu rằng nếu không dựng lên những tập đoàn cứ điểm mạnh hơn, chúng khó giữ được thế chủ động ở Đông Dương.
Một thung lũng xa xôi ở Tây Bắc bắt đầu được nhắc tới nhiều hơn.
Đó là Điện Biên Phủ.



