Câu chuyện 396
HÀNH QUÂN SANG LÀO
Đầu tháng 12 năm 1952, đồng chí Võ Nguyên Giáp gọi Lê Trọng Tấn lên giao nhiệm vụ.
Trung đoàn 141 sẽ cùng ông vượt qua Mai Sơn, sang vùng Mường Hét để mở rộng khu căn cứ du kích Xiêng Khọ của bạn Lào, theo yêu cầu của Chính phủ kháng chiến Lào và Mặt trận It-xa-la. Hai trung đoàn 209 và 165 hành quân trở về Phú Thọ.
Trước lúc lên đường, đồng chí Võ Nguyên Giáp hỏi: “Anh Tấn chắc đã quen vùng Xiêng Khọ?”
Lê Trọng Tấn thưa: “Tôi đã sang Xiêng Khọ năm 1949, hồi còn ở Khu 10.”
Đồng chí Tổng tư lệnh dặn tiếp:
Theo các đồng chí bạn, đồng bào vùng sắp đến rất tốt. Cơ sở chính trị vững, nhưng lực lượng vũ trang còn yếu. Khi đánh phải chú ý đánh cho gọn. Riêng tù binh là người Lào thì cần giao cho bạn.
Nghe đến đó, Lê Trọng Tấn nhận ra trong đôi mắt đồng chí Tổng tư lệnh có một thoáng buồn.
Ông hiểu, bởi ông đã từng ở Xiêng Khọ, từng ăn cơm của nhân dân Lào, từng biết những gương mặt đôn hậu, chất phác của người dân bên kia biên giới.
Đồng chí Võ Nguyên Giáp bỗng nói vui: “Sang Xiêng Khọ, anh Tấn sẽ gặp người quen đó!”
Người quen ấy chính là đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn.
Năm 1949, theo phân công của Quân khu 10, Lê Trọng Tấn đã sang Xiêng Khọ, nơi được ví như một “Tân Trào” của cách mạng Lào.
Ở đó, ông từng gặp đồng chí Cay-xỏn, từng tiếp xúc với nhân dân Xiêng Khọ. Những người dân Lào hiền hậu, chất phác ấy để lại trong ông một cảm giác rất ấm áp và tin cậy.
Ngày 15 tháng 12 năm 1952, đơn vị lên đường.
Con đường sang Mường Hét không giống bất cứ cuộc hành quân nào trước đó.
Có hôm, bộ đội phải ngâm chân trong suối gần như suốt ngày. Có ngày chỉ đi dọc một con suối, cứ hết suối này lại bắt sang một con suối khác.
Tối đến, trước khi đi ngủ, nhìn xuống đôi bàn chân, nhiều người giật mình: da trắng nhợt, nhăn nheo, tưởng như không phải chân mình nữa.
Hồi ấy, bộ đội ta chưa quen dùng võng. Đêm đến, anh em thường lấy dao phát cây, lót lá, san đất làm chỗ ngủ.
Nhưng trong cuộc hành quân này, có đêm không tìm được chỗ bằng phẳng. Anh em phải khoét vào vách núi tạo ra một mặt phẳng nhỏ để nằm.
Có một hôm, đơn vị đi qua một đỉnh núi đá tai mèo. Anh em gọi nơi ấy là “đèo trâu khóc”.
Hỏi ra mới biết, trong hành quân, đơn vị mang theo trâu làm thực phẩm dọc đường. Nhưng đến đỉnh núi đá tai mèo, trâu không thể đi được.
Đường toàn đá sắc, chênh vênh, không có chỗ đặt chân. Bộ đội phải xúm vào khiêng. Trâu mệt quá, đau quá, nằm ra không chịu đi. Thế là anh em gọi nơi ấy là “đèo trâu khóc”.
Có chỗ lại gặp một tảng đá dựng đứng rất cao, chắn ngang lối đi. Mặt đá trơn nhẵn như được đẽo gọt, không có chỗ bấu víu. Dưới chân tảng đá chỉ có một lỗ thủng vừa một người chui lọt.
Muốn sang bên kia, từng người phải chui qua lỗ ấy. Súng đạn, ba lô, gạo, nồi niêu phải chuyền tay từ người đi trước sang người đi sau.
Địch cũng không để yên. Dựa vào hệ thống thám báo người Mèo trên các đỉnh núi cao, chúng đánh hơi thấy quân ta đang tiến.
Hằng ngày, máy bay địch bay trinh sát và oanh tạc dọc đường hành quân. Bộ đội phải men theo suối, đi dưới tán cây, vừa đi vừa ngụy trang.
Có khi vừa bò lên khỏi một con dốc, nhìn ra xa đã thấy dòng sông Mã hiện ra. Bên kia, một đám khói bốc lên. Có thể địch đã đốt Mường Hét.
Lê Trọng Tấn hiểu: phải đi nhanh hơn.
Ngày 29 tháng 12, đơn vị nhận được tin: Sốp Hào vẫn còn địch.
Sốp Hào nằm trên một ngọn đồi thấp, gần một con sông sát biên giới Việt - Lào. Địch ở đây có một đại đội, khoảng 20 lính Pháp, còn lại là lính người Lào.
Chỉ huy đánh Sốp Hào là đồng chí Hồ Quang Hóa. Ban ngày, quân ta tha hồ quan sát. Đêm xuống, các mũi bí mật tiềm nhập rất dễ dàng.
Khi bộ đội tiến sát mục tiêu, mọi việc diễn ra rất nhanh. Vừa nổ súng, bọn địch đã rối loạn.
Chúng không ngờ lực lượng chủ lực của Việt Nam lại xuất hiện sâu đến như vậy trên đất Lào. Chỉ một lát sau, Sốp Hào bị hạ. Bọn lính địch đầu hàng.
Đánh xong, Lê Trọng Tấn ra lệnh giao toàn bộ tù binh là người Lào cho bạn Lào.
Đồng chí Cay-xỏn cho thả họ tại chỗ. Đó là một việc rất có ý nghĩa.
Bởi trong cuộc chiến này, nhân dân Lào là bạn. Người Lào bị Pháp bắt đi lính cũng là đồng bào của cách mạng Lào.
Nếu biết vận động đúng cách, họ có thể trở về với bản làng, với kháng chiến, thay vì tiếp tục làm công cụ cho quân xâm lược.
Sau trận Sốp Hào, Lê Trọng Tấn cùng các đồng chí Lào bàn chuyện xây dựng lực lượng vũ trang.
Ông báo cáo với bạn những kinh nghiệm của Việt Nam: trong tình hình còn thiếu thốn, không thể dàn đều lực lượng.
Phải biết tập trung những cán bộ tốt nhất, vũ khí tốt nhất, trang bị tốt nhất để xây dựng lực lượng tập trung.
Các đội vũ trang tuyên truyền, đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung trong những năm đầu kháng chiến ở Tây Bắc của ta đã chứng minh điều ấy.
Một đồng chí bạn Lào nghe xong nói:
“Đúng rồi! Chỉ có cơ sở chính trị và chiến tranh du kích thì không thể giải phóng được Sốp Hào. Các đồng chí đúng đấy!”
Bạn và ta chia nhau đi xây dựng lực lượng gần một tháng.
Đến ngày phải trở về nước, cuộc chia tay diễn ra rất xúc động.
Những người từng cùng ăn, cùng ngủ, cùng hành quân, cùng đánh đồn, cùng bàn chuyện xây dựng lực lượng trong rừng núi Xiêng Khọ, bỗng thấy không muốn rời nhau.
Trở về nước sau Tết hơn một tháng, Lê Trọng Tấn lại lên Bộ để tham dự hội nghị phổ biến nhiệm vụ trong Chiến dịch Thượng Lào.
Lần này, không còn là một chuyến đi hỗ trợ nhỏ. Một chiến dịch lớn sắp mở ra trên đất bạn.
Và trước mặt Đại đoàn 312 sẽ là một tập đoàn cứ điểm kiểu mới. Người chỉ huy phải trả lời một câu hỏi rất lớn:
Đánh tập đoàn cứ điểm như thế nào, khi pháo ta còn hạn chế, phòng không chưa mạnh, còn địch thì dựa vào sân bay, công sự, máy bay và thế phòng thủ liên hoàn?



