Câu chuyện
Ngày ấy, làng Thanh Quýt ở Quảng Nam vẫn còn chìm trong khói lửa chiến tranh. Những con đường đất đỏ in dấu chân bộ đội, những mái nhà tranh cặm cụi chống chọi với đạn bom. Trong ngôi nhà đơn sơ nằm nép bên hàng tre rì rào gió, có một người mẹ dáng gầy, lưng đã hơi còng, đôi mắt sâu nhưng ánh lên sự kiên cường. Đó là Mẹ Nguyễn Thị Thứ, người sau này được cả nước gọi bằng cái tên thân kính: Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng.

Trường THPT Nguyễn Siêu
Họ và tên: Lương Thị Thanh Phương
Lớp 11K
CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA
MẸ NGUYỄN THỊ THỨ
Ngày ấy, làng Thanh Quýt ở Quảng Nam vẫn còn chìm trong khói lửa chiến tranh. Những con đường đất đỏ in dấu chân bộ đội, những mái nhà tranh cặm cụi chống chọi với đạn bom. Trong ngôi nhà đơn sơ nằm nép bên hàng tre rì rào gió, có một người mẹ dáng gầy, lưng đã hơi còng, đôi mắt sâu nhưng ánh lên sự kiên cường. Đó là Mẹ Nguyễn Thị Thứ, người sau này được cả nước gọi bằng cái tên thân kính: Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng.
Mỗi buổi sớm, khi sương còn vương trên mái nhà, Mẹ đã thức dậy nhóm bếp, nấu nồi khoai, nồi sắn cho mấy đứa con trai đang chuẩn bị lên đường. Họ lớn lên giữa tiếng súng, tiếng reo của phong trào cách mạng, nên hầu hết đều xin nhập ngũ, vào bộ đội, vào biệt động, vào dân quân… Mẹ nhìn các con khoác ba lô mà lòng vừa tự hào, vừa quặn thắt. Mẹ biết chiến tranh không dễ dàng trả con về, nhưng Mẹ chẳng một lần ngăn cản. “Đất nước mình còn giặc, mẹ giữ các con ở nhà sao đành,” Mẹ vẫn nói vậy, giọng nhẹ mà rắn.
Trong khu vườn sau nhà, có những chiếc hầm bí mật mà Mẹ và các con tự tay đào. Đất được đào từ đêm, lót gỗ, lót lá, rồi che kín bằng những ụ rơm, khóm chuối. Ngày ngày, Mẹ dắt bò qua lại để xoá dấu vết, để tránh sự nghi ngờ của giặc. Các cán bộ cách mạng, những chiến sĩ trinh sát, bộ đội hành quân luôn coi nhà Mẹ là điểm tựa an toàn. Cứ mỗi khi ngọn đèn dầu Mẹ treo ở vách sáng lên vào ban đêm, họ biết rằng trong ngôi nhà nhỏ ấy vẫn còn một tấm lòng bao dung, sẵn sàng che chở họ như che chở những đứa con ruột thịt của mình.
Những năm tháng ác liệt trôi qua cũng là những năm tháng Mẹ dần dần nhận về những tin tức khiến lòng người mẹ như bị ai bóp nghẹt. Người con thứ, rồi người con ba, tiếp đó là người con tư… từng tờ giấy báo tử đặt lên bàn thờ, Mẹ đứng lặng nhìn ảnh con mà đôi bàn tay run run, nước mắt cứ chảy ra nhưng Mẹ cố gượng. Mẹ khóc, nhưng không gục ngã. Mẹ nói: “Con mình vì nước mà đi, mình phải để chúng đi trong sự bình yên.”
Chiến tranh mỗi ngày một dữ dội. Những lần giặc càn quét, Mẹ lại nắm tay các cháu, đội nón lá, giả vờ ra đồng cắt cỏ để đánh lạc hướng, trong khi các cán bộ đang nằm im trong hầm dưới chân Mẹ. Một mình Mẹ che chở, một mình Mẹ đối mặt. Có lúc bị tra hỏi, bị đe doạ, Mẹ vẫn chỉ mím môi nói: “Tui chỉ biết làm ruộng, chẳng biết chi mô…” Giặc nhìn Mẹ già, khắc khổ, tưởng như không thể là người nuôi giấu cách mạng, nên nhiều lần bỏ đi. Còn Mẹ thì lặng lẽ thở phào nhẹ nhõm.
Thế rồi, những ngày cuối cùng của cuộc chiến đến gần. Mẹ nhận được tin người con cả – niềm tự hào lớn nhất của Mẹ – đã ngã xuống vào đúng ngày 30 tháng 4 năm 1975. Tin ấy như nhát dao cuối cùng khoét sâu vào trái tim đã quá nhiều thương tích của Mẹ. Ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, người người reo mừng, nhưng sau cánh cửa khép của ngôi nhà nhỏ, Mẹ Thứ ngồi đó, lặng lẽ thắp thêm một nén hương, đôi vai run lên, dường như vì cả nỗi đau lẫn niềm nhẹ nhõm. Đất nước đã yên bình, nhưng đổi lại, Mẹ mất gần như cả đàn con.
Tổng cộng, Mẹ tiễn đưa 9 người con ruột, 1 người con rể và 2 cháu ngoại trong chiến tranh. Một sự hy sinh mà không ngôn từ nào có thể đo đếm. Nhưng lạ thay, khi người ta hỏi Mẹ có oán trách điều gì không, Mẹ chỉ lắc đầu: “Tui thương con tui lắm… nhưng tụi nó đi vì cái chung. Mình làm mẹ, hiểu điều đó thì không trách được.”
Những năm sau, khi đất nước thanh bình, chính quyền, bà con, đồng đội của các con quy tụ về thăm Mẹ. Người ta dựng tượng đài Mẹ Việt Nam Anh Hùng bằng chính gương mặt Mẹ – hiền từ, chịu thương chịu khó, và rực sáng niềm kiên trung. Ngôi nhà của Mẹ trở thành nơi lưu giữ ký ức của bao thế hệ. Mỗi bức ảnh, mỗi chiếc khăn tay, mỗi kỷ vật của các con đều được Mẹ nâng niu như mới.
Mẹ Thứ sống đến 106 tuổi. Cuộc đời dài nhưng không có giây phút nào Mẹ thôi nhớ con, thôi thương nước. Người ta nói, trái tim Mẹ như một ngọn lửa – càng gặp bão giông, càng cháy sáng. Một ngọn lửa của tình mẹ, của lòng yêu nước, của sự hy sinh không gì sánh được.
Và cho đến hôm nay, khi nhắc về những Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng, người ta vẫn nhớ đến Mẹ Nguyễn Thị Thứ đầu tiên — người phụ nữ bình dị nhưng đã viết nên một bản hùng ca từ chính nước mắt và trái tim mình. Ngọn lửa thời hoa lửa ấy, cháy qua cả một thế kỷ, vẫn còn soi sáng những thế hệ sau.



