Câu chuyện Anh hùng Phan Đình Giót (1922 – 1954)
Mùa hoa ban năm ấy nở trắng trời Tây Bắc, nhưng trong ký ức của những người lính Trung đoàn 141 chúng tôi, sắc trắng ấy mãi mãi hòa cùng màu máu đỏ của anh – người đồng đội, người con xứ Nghệ kiên cường: Phan Đình Giót.
KHI CHÚ GIÓT VẪN CÒN Ở LẠI
Mùa hoa ban năm ấy nở trắng trời Tây Bắc, nhưng trong ký ức của những người lính Trung đoàn 141 chúng tôi, sắc trắng ấy mãi mãi hòa cùng màu máu đỏ của anh – người đồng đội, người con xứ Nghệ kiên cường: Phan Đình Giót.
Anh Giót sinh ra từ cái nôi nghèo khó ở xóm Tam Quang, xã Cẩm Quan, huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh. Cái nắng miền Trung gay gắt và cái gió lào thổi rát mặt dường như đã hun đúc nên một chàng trai có dáng người đậm, làn da đen sạm nhưng đôi mắt lúc nào cũng sáng quắc và nụ cười hiền khô. Anh ít nói lắm, cứ lầm lũi làm việc, nhường cơm xẻ áo cho đồng đội như một người anh cả. Mỗi lúc nhớ nhà, anh lại nghêu ngao mấy câu hò dặm xứ Nghệ bằng cái giọng trầm ấm, khiến lũ chúng tôi – những đứa trẻ lớn lên giữa bom đạn – vơi đi phần nào nỗi nhớ quê hương.
Chiều ngày 13 tháng 3 năm 1954, chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn. Trận đánh mở màn vào cứ điểm Him Lam diễn ra ác liệt hơn bất kỳ điều gì chúng tôi có thể tưởng tượng. Tiếng pháo gầm rú xé toạc bầu trời, khói bom mù mịt, đất đá bay rào rào. Tiểu đội của anh Giót có nhiệm vụ dùng bộc phá để mở toang các lớp hàng rào dây kẽm gai cho đại quân tiến lên.
"Các đồng chí! Bằng mọi giá phải mở đường, không được để anh em dậm chân tại chỗ!"
Tiếng anh Giót hét lên trong tiếng bom nổ tai nhức óc. Anh lao lên trước, ôm bộc phá đánh liên tiếp quả thứ nhất, rồi quả thứ hai. Máu anh đã chảy khi một mảnh đạn găm vào vai, nhưng anh như không hề biết đau. Đến quả bộc phá thứ chín, hàng rào cuối cùng cũng chịu tan tác. Nhưng đúng lúc ấy, từ một lô cốt ngầm của địch – cái "lỗ châu mai" quỷ quệt – hỏa lực trung liên bắn ra như mưa. Đạn vạch đường đỏ rực, găm xối xả vào đội hình của ta. Đồng đội ngã xuống. Tiếng xung phong bị nghẹn lại bởi làn đạn tàn khốc.
Tôi nhìn thấy anh Giót lúc đó đã bị thương rất nặng ở đùi và vai, máu nhuộm đỏ cả áo trấn thủ. Anh loạng choạng, nhưng đôi mắt anh khi nhìn về phía lỗ châu mai ấy không một chút sợ hãi. Chỉ có một quyết tâm cháy bỏng.
Anh dùng hết chút sức lực cuối cùng, trườn lên từng mét đất rách nát vì bom đạn. Mỗi bước anh qua là một vệt máu dài để lại trên nền đất Điện Biên. Khi chỉ còn cách họng súng địch vài bước chân, anh quay đầu lại nhìn chúng tôi, nở một nụ cười rạng rỡ – nụ cười của người chiến sĩ biết mình sắp hoàn thành sứ mệnh với Tổ quốc.
Anh hét lớn: "Vì độc lập tự do! Anh em xông lên!"
Rồi, bằng một động tác dứt khoát và phi thường, anh nhoài người, đem cả lồng ngực vạm vỡ của đứa con xứ Nghệ áp chặt vào lỗ châu mai.
Họng súng khựng lại. Tiếng gầm rú quái ác của khẩu trung liên tắt lịm.
Cả trận địa như ngừng thở trong một giây. Nước mắt chúng tôi trào ra, hòa lẫn với máu và mồ hôi. Sự hy sinh của anh như một ngọn lửa thổi bùng lên lòng căm thù và sức mạnh vô biên. "Trả thù cho anh Giót!" – tiếng hô vang dội núi rừng. Toàn bộ chiến sĩ lao lên như thác đổ, đạp qua lửa đạn, nghiền nát cứ điểm Him Lam.
Trận đánh kết thúc, cờ quyết thắng tung bay, nhưng anh Giót của chúng tôi đã mãi mãi nằm lại ở tuổi 32. Khi chúng tôi bế anh ra, lồng ngực anh đã nát bấy, nhưng gương mặt anh thanh thản lạ kỳ. Anh đã dùng thân mình làm lá chắn, lấy máu xương để nở hoa cho độc lập.
Mấy mươi năm đã trôi qua, mái đầu tôi giờ đã bạc trắng, nhưng hình ảnh người anh hùng Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai năm ấy chưa bao giờ phai nhạt. Anh nằm xuống mảnh đất Tây Bắc, nhưng linh hồn anh, khí phách của người con xứ Nghệ vẫn sống mãi, hóa thành bất tử trong lòng non sông.



