Bài viết

Câu chuyện Anh Lê Sỹ Hòa Quê tại xã Nghĩa Đồng

Nghệ An01/07/2026Nguyễn Thị Như Ngọc (Xóm Nghĩa Sơn, xã Nghĩa Đồng)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA

ĐỒNG ĐỘI CỦA ANH TÔI...

Ngày đầu tiên của tháng 10 năm 2024, màn hình điện thoại của tôi liên tục nhấp nháy ba cuộc gọi từ những đầu số lạ. Phải mất một lúc lâu lắng nghe giọng nói ấm áp, mang đậm phong vị mộc mạc của quê hương xứ Nghệ, tôi mới bàng hoàng nhận ra đó là ba người bạn học cùng lớp cấp 3, cùng nhập ngũ và cùng vào sinh ra tử một thời với anh trai tôi: anh Nguyễn Xuân Tính, anh Lê Sỹ Hòa và anh Lê Đắc Quý.

Hơn năm mươi năm đã trôi qua kể từ mùa hè đỏ lửa năm ấy, cái ngày mà các anh – những chàng trai xóm nhỏ Nghĩa Hợp (nay là Nghĩa Đồng,tỉnh Nghệ An) thuộc niên khóa 1969 - 1972 của trường cấp 3 Tân Kỳ – còn chung một lớp 9A. Giữa tháng 8 năm 1971, khi chuẩn bị bước vào lớp 10, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của miền Nam ruột thịt, các anh đã đồng lòng "xếp bút nghiên lên đường đánh Mỹ" với lý tưởng sục sôi: “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù”.

Sau ba tháng huấn luyện gian khổ tại xã Quỳnh Tam (Quỳnh Lưu), các anh hành quân bộ dọc theo dãy Trường Sơn tiến vào mặt trận B5 (Quảng Trị). Anh trai tôi – anh Nhung – là lính hỏa lực đi cùng bộ binh, còn anh Quý là lính trinh sát. Anh Hòa bồi hồi nhớ lại, anh chính là người bạn cùng lớp cuối cùng được gặp anh Nhung tại bờ bắc sông Bến Hải vào đúng 17 giờ 50 phút ngày 30 tháng 3 năm 1972 – thời khắc mở màn chiến dịch tiến công chiến lược Xuân - Hè lịch sử.

Thế nhưng, chiến tranh chưa bao giờ ngưng tàn khốc. Vào một đêm cuối tháng 6 năm 1972, khoảng 2-3 giờ sáng, khi đơn vị đang hành quân qua một trảng cát tại khu vực giữa xã Hải Ba và Hải Thượng (huyện Hải Lăng, Quảng Trị), một loạt pháo bầy từ biển của giặc bất ngờ dội tới. Giữa trận bão lửa gầm vang ấy, anh trai tôi đã vĩnh viễn nằm lại ở tuổi mười tám đôi mươi. Trong đêm tối mịt mùng và những bước chân hành quân vội vã, đồng đội chỉ kịp an táng anh bên đường rồi lại tiếp tục ôm súng tiến về phía trước.

Chiến tranh kết thúc, các anh trở về với giang sơn hòa bình nhưng mang trên mình những vết thương rách nát. Anh Tính là thương binh hạng 4/4, anh Hòa là thương binh hạng nặng 1/4, còn anh Quý tiếp tục cống hiến trong quân ngũ rồi về hưu tại Nha Trang. Dù ở đâu, làm gì, các anh vẫn giữ vẹn nguyên phẩm chất bộ đội Cụ Hồ, gương mẫu đi đầu trong các phong trào cựu chiến binh tỉnh Nghệ An.

Năm mươi hai năm qua, các anh chưa một ngày nguôi nhớ về người bạn học, người đồng đội năm xưa. Bức ảnh duy nhất của anh Nhung trên bàn thờ gia đình vốn được các anh bóc tách từ một tấm ảnh kỷ niệm chụp chung thời đi học. Hàng năm, cứ đến Tết hay ngày 27/7, anh Hòa và anh Tính đều lặn lội đến nhà thắp hương cho anh tôi.

Khi cha mẹ qua đời, tôi chuyển vào miền Tây Nam Bộ công tác và rước hương hồn anh trai vào theo. Không còn điều kiện đến nhà phụng hương, nhân dịp kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, ba người đồng đội già đã gọi điện xin tôi tấm ảnh cũ để khôi phục, phóng to và lồng vào khung gỗ đinh hương quý giá của quê nhà Nghệ An gửi vào Nam cho tôi.

Giữa tháng 10 năm 2024, khi ôm gói bưu phẩm chứa tấm di ảnh mới của anh trai vào lòng, nước mắt tôi cứ thế tuôn trào. Bức ảnh được phục dựng rõ nét đến từng sợi tóc, ánh mắt anh tôi như đang cười, rạng rỡ và trong trẻo như chưa từng có cuộc chia ly.

Tôi run rẩy đặt tấm ảnh lên bàn thờ, khói hương nghi ngút quyện vào lòng dạ thắt quặn. Tôi nhớ đến lời kể nghẹn ngào của anh Quý: “Năm 1973 anh về phép, sang nhà thăm hai bác. Lúc đó đơn vị chưa gửi giấy báo tử, hai bác hỏi tin anh Nhung, anh biết Nhung hy sinh rồi nhưng không dám nói thật, chỉ bảo em vẫn đang chiến đấu... Nhìn ánh mắt hy vọng của hai bác lúc đó, lòng anh đau như cắt”. Nỗi đau giấu kín của người lính trinh sát năm xưa, nay chạm vào lòng tôi buốt nhói. Cha mẹ tôi đã đi suốt cuộc đời với niềm hy vọng khắc khoải ấy, cho đến tận hơi thở cuối cùng.

Trong cái tĩnh lặng của gian thờ, tôi nhìn ngắm gương mặt anh trai – người chiến sĩ mãi mãi dừng lại ở tuổi 18, rồi lại nghĩ về những người đồng đội của anh nay tóc đã bạc phơ, da mồi chí cốt, ai cũng đã bước qua tuổi thất thập cổ lai hy. Điện thoại chợt rung lên dòng tin nhắn của anh Hòa gửi vào: “Các anh còn sống, đang được hưởng thành quả của các Anh hùng Liệt sĩ. Anh rất vui khi hoàn thành công việc tình nghĩa này. Nhờ em thắp nén hương, nói với anh Nhung hộ bọn anh nhé…”

Tôi đứng trước bàn thờ, đôi vai gầy rung lên theo từng tiếng nấc. Tôi thắp nén nhang thơm, khói bay mờ dòng lệ, thầm thì gọi:

"Anh Nhung ơi... Đồng đội của anh gọi anh kìa! Các anh Tính, anh Hòa, anh Quý vẫn nhớ anh lắm. Đất nước hòa bình rồi, xương máu của anh cũng đã được đón về nằm yên ấm ở nghĩa trang Hải Vĩnh. Hôm nay, bạn học của anh, đồng đội B5 của anh đã tự tay làm cho anh một mái nhà thờ mới bằng gỗ đinh hương của quê hương xứ Nghệ quê mình... Anh ở trên cao, có linh thiêng thì chứng giám cho tình đồng đội thiêng liêng, bất tử này anh nhé!"

Những giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên má, hòa cùng làn khói trầm nghi ngút. Các anh – những "bông hoa lửa" của một thời đại anh hùng, dù người còn sống hay người đã khuất, tình yêu thương và lòng trung kiên của các anh sẽ mãi là bài ca bất tử, sưởi ấm cho thế hệ mai sau biết trân trọng giá trị của độc lập, tự do và hai tiếng: Đồng đội.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Câu chuyện Anh Lê Sỹ Hòa Quê tại xã Nghĩa Đồng | Câu chuyện thời hoa lửa