Câu chuyện các Anh hùng, Liệt sĩ tại Truông Bồn
Những năm chống Mỹ, Truông Bồn là huyết mạch giao thông của miền Bắc. Ban ngày bom đạn cày nát mặt đường, ban đêm những người thanh niên xung phong lại cầm cuốc, cầm xẻng, gùi đá, san lấp hố bom để xe chở hàng, chở bộ đội kịp vào chiến trường.
NỬA VẰNG TRĂNG GỬI LẠI TRUÔNG BỒN
Trong ký ức của một bà già đã bước sang tuổi tám mươi như mẹ tôi, Truông Bồn chưa bao giờ là một cái tên xa xôi trên bản đồ. Nơi ấy là tuổi trẻ, là nước mắt, và là ngôi nhà chung của mười ba đứa em, đứa bạn tôi – những chiến sĩ thanh niên xung phong của "Đại đội thép" 317 ngày ấy.
Mùa thu năm 1968, mảnh đất Mỹ Sơn, Đô Lương, Nghệ An bị bom cày nát không còn một ngọn cỏ. Truông Bồn là nút giao thông huyết mạch, giặc Mỹ điên cuồng trút xuống đây hàng vạn tấn bom đạn hòng chặt đứt sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam ruột thịt. Ngày ấy, mười ba đứa tụi nó tuổi mới mươi tám, đôi mươi, hồn nhiên và mộc mạc lắm. Con gái thì tóc dài thơm mùi bồ kết, con trai thì nụ cười hiền lành, áo sờn vai nhưng lúc nào cũng nghêu ngao hát.
Tụi nó gọi nhau là "Đại đội thép" không phải vì mình làm bằng sắt đá, mà vì lòng quyết tâm giữ đường lớn hơn cả nỗi sợ chết. Ban ngày bom nổ, ban đêm tụi nó lại vác cuốc, vác xẻng ra đường san lấp hố bom. Có những đêm trời tối đen như mực, xe vận tải không thể bật đèn, tụi nó đã mặc áo trắng, đứng làm "cọc tiêu sống" giữa làn bom đạn để hướng dẫn cho xe qua.
"Chị ơi, hết chiến tranh em về cưới anh Vinh nhé. Sắp hết hạn nghĩa vụ rồi, tụi em hẹn nhau về quê cấy lúa..."
Cái Cam, đứa nhỏ tuổi nhất tiểu đội, vừa ém lại mái tóc dài vừa thủ thỉ với tôi dưới hầm chữ A như thế vào đêm ngày 30 tháng 10. Không chỉ có Cam, mà nhiều đứa khác trong tiểu đội hôm ấy đều đã nhận được quyết định ra quân, có đứa đã có giấy gọi nhập học đại học. Ngày mai, ngày 1 tháng 11, tụi nó sẽ được về nhà, về với mẹ, với giảng đường, với người yêu sau những năm tháng thanh xuân dâng hiến cho Truông Bồn. Đêm đó, cả tiểu đội không ngủ, tụi nó chia nhau nửa củ sắn lùi, tíu tít kể về tương lai bằng những nụ cười rạng rỡ.
Nhưng ngày mai hạnh phúc ấy đã mãi mãi không bao giờ đến.
bốn giờ sáng ngày 31 tháng 10 năm 1968, khi mặt trời chưa kịp ló dạng, chỉ còn vài tiếng nữa là lệnh ngừng ném bom miền Bắc có hiệu lực. Một loạt bom tọa độ bất ngờ từ máy bay Mỹ dội xuống Truông Bồn. Cả bầu trời Mỹ Sơn rung chuyển, khói bom đen kịt bao trùm lên trận địa. Tôi lao ra khỏi hầm, tiếng gào khóc nghẹn lại trong cổ họng.
Hố bom chồng lên hố bom. Mặt đường bốc khói khét lẹt. Toàn bộ tiểu đội mười ba người đã bị vùi lấp dưới làn đất đá đậm đặc.
Chúng tôi điên cuồng dùng tay bới đất, vừa bới vừa gọi tên từng đứa: "Cam ơi! Định ơi! Thông ơi!..." Móng tay bật máu, lòng ngực nghẹn thắt. Khi tìm thấy tụi nó, tim tôi như vỡ vụn. Cái Cam nằm đó, mái tóc dài dính bết bùn đất và máu đỏ, tay vẫn còn chặt cây xẻng san đường. Chúng tôi xếp tụi nó nằm cạnh nhau, mười ba thân hình thanh xuân mộc mạc vừa mới đêm qua còn cười còn nói, giờ đây im lặng đến tê lòng. Khói bom tan đi, chỉ còn lại những giọt nước mắt nghẹn ngào của những người ở lại thấm đẫm vào lòng đất mẹ.
Mười ba người con con của "Đại đội thép" đã nằm lại ở mảnh đất Truông Bồn khi chỉ còn vài giờ nữa là được trở về nhà. Tụi nó đã hiến dâng những giọt máu cuối cùng để giữ vững mạch máu giao thông cho Tổ quốc, gửi lại thanh xuân ở tuổi hai mươi đẹp nhất.
Mấy mươi năm đã trôi qua, chiến tranh đã lùi xa, con đường Truông Bồn nay đã xanh rì màu cỏ mới. Nhưng mỗi lần trở lại Mỹ Sơn, thắp nén hương thơm lên nấm mồ chung, nước mắt tôi lại trào ra. Tôi như vẫn thấy nụ cười của tụi nó thấp thoáng trong màu hoa sim chín, sống mãi cùng non sông, bất tử cùng thời hoa lửa anh hùng.



