Cựu chiến binh

Câu chuyện của cựu chiến binh Ma Phúc Lịch

Câu chuyện của Cựu chiến binh Ma Phúc Lịch

Tuyên Quang21/12/2025Nông Văn Tú (Đoàn xã Minh Quang)4 lượt xem0 lượt chia sẻ


Tôi là Ma Phúc Lịch, sinh ngày 10 tháng 2 năm 1952, quê ở thôn Nà Mè, xã Minh Quang, tỉnh Tuyên Quang. Tôi sinh ra và lớn lên trong những năm tháng đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh. Tuổi thơ của tôi gắn liền với đói nghèo, gian khó, với hình ảnh cha mẹ già yếu, ruộng nương thiếu thốn, nhưng cũng được hun đúc bằng tinh thần yêu nước và khát vọng độc lập, tự do cho dân tộc.

Tháng 2 năm 1972, khi vừa tròn hai mươi tuổi, tôi tình nguyện lên đường tham gia kháng chiến tại nước bạn Lào. Khi ấy, chiến tranh diễn ra vô cùng ác liệt. Là một thanh niên lớn lên trong cảnh nước chưa yên, tôi hiểu rằng mình không thể đứng ngoài. Đó vừa là trách nhiệm, vừa là nghĩa vụ thiêng liêng của một công dân Việt Nam. Tôi được biên chế vào đơn vị C2D23, Đoàn 959, trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, với nhiệm vụ sang giúp cách mạng Lào trong vai trò quân tình nguyện.

Trong những năm tháng chiến đấu nơi đất bạn, tôi đã tham gia nhiều trận đánh, nhiều nhiệm vụ khác nhau. Nhưng ký ức mà tôi không bao giờ quên là Chiến dịch Xiêng Khoảng – Sầm Nưa. Chúng tôi chiến đấu trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt, vừa thiếu thốn lương thực, vừa đối mặt với sự truy quét quyết liệt của địch. Trong chiến dịch ấy, tôi vinh dự được tặng Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, bởi trong một trận đánh, một quả đạn B40 của tôi đã tiêu diệt được 5 tên địch. Đó không phải là niềm vui cá nhân, mà là niềm tự hào của cả đơn vị, của những người lính Việt Nam trên đất bạn Lào.

Kỷ niệm sâu sắc và ám ảnh nhất trong đời lính của tôi là khi đơn vị bị phỉ Hoàng Pao bao vây suốt 6 tháng trời. Đến tháng thứ bảy, chúng tôi mới phá vây thành công. Suốt thời gian bị bao vây, cuộc sống vô cùng gian khổ: đói ăn, thiếu đạn, bệnh tật rình rập. May mắn thay, trong khu vực đó có nhiều củ mài rừng, anh em chúng tôi đào về, chia nhau ăn sống để cầm cự, giữ sức chiến đấu. Trong hoàn cảnh tưởng chừng không thể vượt qua ấy, chính tình đồng đội, niềm tin vào thắng lợi và ý chí không khuất phục đã giúp chúng tôi đứng vững.

Điều nâng đỡ tinh thần tôi và đồng đội trong những tháng ngày sinh tử ấy chính là tình cảm quốc tế cao đẹp và lời dạy của Bác Hồ, của Đại tướng Võ Nguyên Giáp:
“Giúp bạn Lào tức là giúp chính mình.”
Những câu thơ, câu nói về tình đoàn kết Việt – Lào:
“Việt – Lào hai nước chúng ta,
Tình sâu hơn nước Hồng Hà Cửu Long”

đã trở thành sức mạnh tinh thần to lớn, thôi thúc chúng tôi chiến đấu đến cùng vì nghĩa tình quốc tế trong sáng.

Trong đơn vị, chúng tôi coi nhau như anh em ruột thịt, sống chết có nhau. Người khiến tôi khâm phục và xúc động nhất là Đại đội trưởng Lù A Xề, người dân tộc Nhắng, quê ở tỉnh Lào Cai. Đồng chí là tấm gương sáng về lòng dũng cảm và tinh thần chỉ huy kiên cường. Dù bị thương tới 36 lần, trên người đầy vết sẹo, đồng chí vẫn không rời trận địa, không lùi bước, tiếp tục chỉ huy đơn vị chiến đấu cho đến hơi thở cuối cùng. Hình ảnh ấy theo tôi suốt cả cuộc đời.

Khi chiến tranh kết thúc, đất nước hoàn toàn giải phóng, cảm xúc trong tôi thật khó diễn tả. Đó là niềm vui vỡ òa khi non sông liền một dải, nhưng cũng là nỗi nghẹn ngào khi nhớ về những đồng đội đã mãi mãi nằm lại nơi chiến trường, không kịp chứng kiến ngày hòa bình. Với tôi, hòa bình hôm nay là cái giá được đánh đổi bằng máu, nước mắt và tuổi xuân của biết bao con người.

Trở về quê hương Minh Quang, cuộc sống gia đình tôi dần ổn định, dù còn nhiều khó khăn. Tôi cùng vợ con khai hoang ruộng đất, trồng lúa, chăn nuôi để mưu sinh. Trong thời bình, tôi luôn tự nhủ mình là người lính trở về thì phải tiếp tục cống hiến. Tôi tham gia công tác địa phương, vận động bà con đoàn kết lao động sản xuất, giữ gìn an ninh thôn bản. Mỗi khi có dịp, tôi lại kể cho lớp trẻ nghe về những năm tháng chiến tranh, để các cháu hiểu rằng hòa bình hôm nay là vô cùng quý giá.

Tôi luôn mong thế hệ trẻ hôm nay sẽ tiếp nối tinh thần “thời hoa lửa” bằng cách sống có lý tưởng, biết ơn quá khứ, chăm chỉ học tập, lao động và cống hiến. Không cần phải cầm súng ra chiến trường, nhưng trong thời bình, yêu nước chính là làm tốt công việc của mình, xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh.

Tôi tin rằng, với sức trẻ, trí tuệ và lòng yêu nước, đoàn viên, thanh niên xã Minh Quang hôm nay sẽ tiếp tục viết tiếp những trang truyền thống vẻ vang của quê hương – bằng chính hành động, trách nhiệm và khát vọng của mình.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn