Câu chuyện của một nhân chứng
Bây giờ mà người cầm bút cứ hay nói đến đề tài chiến tranh có vẻ như nặng về hoài cổ, không hợp thời lắm, tự tôi cũng đôi khi mang mặc cảm như vậy, bởi cuộc chiến gần nhất cũng đã trôi qua ngót một nửa thế kỷ rồi. Nhưng khi về tỉnh Bình Phước, chứng kiến những di ấn của cuộc chiến, tôi lại nhận thấy cái sự “ám ảnh chiến tranh” dường như vẫn còn. Những di tích chỉ là bề nổi, những gì mà nó gây ra còn hằn sâu trong tâm can con người mới là điều đáng nói.
Bữa trưa, ăn cơm ở Ban chỉ huy quân sự thị xã, những người đồng đội mới cho chúng tôi biết Trung tá Dương Hà Cường có một cuộc đời khá giông gió. Anh không biết bố mẹ mình là ai. Khi trận chiến khủng khiếp mùa hè 1972 đó kết thúc, những người lính giải phóng còn sống sót rút lui khỏi thị xã, họ nhìn thấy một em bé trai 2 tuổi mặt mũi nhọ nhem đất cát khói bụi đang ngồi bên đống đổ nát vừa khóc vừa gọi mẹ. Những người lính biết chắc rằng bố mẹ em đã chết bom, họ liền bế em đi theo. Kể từ hôm đó, em là con nuôi của những người lính giải phóng, họ đi đâu em đi theo đó, như một người lính ít tuổi nhất đơn vị. Ai cũng thương em, quan tâm dạy dỗ em, coi em như con. Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu, họ cho em ngồi trong xe tăng thần tốc tiến về hướng Sài Gòn. Để bảo toàn tính mạng cho em, khi đi qua Bình Long quê hương em, họ bàn giao em cho một gia đình có thiện chí với cách mạng nuôi giúp. Cặp vợ chồng này, chồng tên là Hà Nghĩa, vợ tên là Dương Thị Hường, họ lấy nhau đã lâu mà không có con. Họ rất thương quý thằng bé. Họ lấy họ Dương của người vợ, họ Hà của chồng để đặt họ và tên đệm cho đứa bé, thành Dương Hà Cường. Nhưng cậu bé cũng chỉ sống trong vòng tay yêu thương của cặp vợ chồng này khoảng một năm thì bão táp cuộc đời lại ập đến với em. Hà Nghĩa và Dương Thị Hường nhận thấy không hợp nhau, lại không sinh con được với nhau nên đã ly hôn. Họ để cho Dương Hà Cường ở trong túp nhà tàn tạ của họ rồi mỗi người một ngả. Trước khi đi họ nói với Cường: “Bây giờ bố mẹ đã chia tay, không có điều kiện bao nuôi con nữa, con phải tự lo kiếm sống vậy thôi. Cầu trời Phật ban phước cho con”. Kể từ hôm đó, cậu bé 5 tuổi bắt đầu vật lộn với miếng cơm manh áo, tự nuôi thân. Cậu đi nhặt ve chai và làm đủ mọi việc miễn là không bị chết đói. Lớn thêm lên chút nữa, cậu bắt đầu có ý thức rằng, cậu cần phải đi học, chỉ có điều ấy mới thực sự cứu được đời cậu. Cậu đến trường, cái ngôi trường có pho tượng Đức chúa Giêsu. Một buổi đến trường, một buổi lăn lóc trong những bãi rác, ghềnh sông, nhìn thấy cái gì ăn được là nhặt, là bắt. Nhiều đêm nằm co quắp trong căn nhà ghép tre nứa trống vắng, Cường nằm mơ thấy bố mẹ mình, mặt đầy máu me; hai người cứ giằng cậu ra khỏi vòng tay bố mẹ nuôi. Nỗi ám ảnh chiến tranh vẫn trĩu nặng trong tâm hồn cậu bé khiến đôi khi cậu sợ hãi. Đến năm cuối trung học phổ thông, áp lực học hành lớn quá, điều kiện kiếm sống cũng không còn dễ dàng, cậu đã vào chùa toan xuống tóc làm người tu hành, nhưng thật may, có một quý nhân xuất hiện đúng lúc. Đó là bác sĩ quân y Hà Tố Thiện, Phó chủ nhiệm hậu cần kiêm Chủ nhiệm quân y Học viện Lục quân II. Ông Thiện can thiệp với lãnh đạo đưa Dương Hà Cường vào học ngôi trường đào tạo sĩ quan này. Tình yêu thương của ông đã khiến Cường bớt đi nỗi ám ảnh sợ hãi. Cường trở thành quân nhân, coi quân đội là gia đình lớn của mình. Với bản tính chịu khó cộng với nỗi ám ảnh chiến tranh ghê gớm, Dương Hà Cường phấn đấu không biết mệt mỏi, trở thành một sĩ quan chỉ huy giỏi, sẵn sàng có mặt ở những nơi hiểm nguy nhất với tâm nguyện phải ngăn chặn bất cứ cuộc chiến tranh nào xảy ra trên đất nước, để đừng bao giờ có những đứa trẻ phải chịu cảnh bơ vơ không cha mẹ như anh…


