CÂU CHUYỆN HOA LỬA- LÁ THƯ KHÔNG ĐỊA CHỈ
LÁ THƯ KHÔNG ĐỊA CHỈ
Câu chuyện thời hoa lửa- Lá thư không địa chỉ
Năm 1972, chiến trường Quảng Trị chìm trong khói lửa. Ban ngày máy bay gầm rú, bom đạn xới tung những cánh đồng và con đường đất đỏ. Ban đêm, pháo sáng treo lơ lửng giữa trời như những đốm lửa không tắt. Giữa những tháng ngày dữ dội ấy, thư từ trở thành niềm mong mỏi lớn nhất của người lính nơi tiền tuyến và của những người mẹ nơi quê nhà.
Ở một trạm giao liên giữa rừng, chiến sĩ trẻ tên Khang nhận nhiệm vụ chuyển thư. Mỗi tuần vài lần, anh gom những lá thư từ các đơn vị rồi men theo đường rừng đưa về tuyến sau. Công việc ấy tưởng bình thường, nhưng mỗi chuyến đi đều phải đổi bằng mồ hôi, có khi bằng máu.
Khang quý những lá thư lắm. Anh bảo đồng đội:
– Trong này không chỉ có giấy đâu, là nhớ thương của cả một nhà gửi theo.
Vì thế, nhận thư nào anh cũng vuốt phẳng lại góc nhàu, cẩn thận xếp ngay ngắn vào túi vải.
Một chiều mưa bom vừa dứt, Khang nhặt được dưới miệng hầm sập một phong thư dính bùn đất. Phong bì không ghi rõ địa chỉ, cũng chẳng có tên người nhận. Chỉ có mấy chữ nguệch ngoạc:
Gửi má, ở quê.
Khang đứng lặng rất lâu.
Anh lau sạch lớp bùn, mở thư ra xem có tìm được địa chỉ bên trong hay không. Trang giấy học trò đã nhòe nước mưa, nhưng vẫn đọc được:
“ Má ơi, chắc lần này con đi lâu. Má đừng đợi cơm con nữa. Nếu con không về, má cũng đừng buồn nhiều nghe má. Ra đây bom đạn suốt ngày, anh em đứa còn đứa mất, chẳng ai biết trước được chuyện gì. Con chỉ mong má hiểu là con đi vì đất nước, vì làng mình
Ở nhà má nhớ giữ sức khỏe. Mùa mưa tới rồi, mái sau bếp dột thì nhờ chú Năm sang lợp lại, đừng tự trèo lên nguy hiểm. Thóc lúa năm ni nếu thiếu, má cứ sang mượn bác Hai, khi nào con về con làm trả.
Khi nào hết giặc, con sẽ về. Con về phụ má cày lại mảnh ruộng sau nhà, sửa cái hàng rào tre đã mục…”
Đọc đến đó, Khang thấy nghèn nghẹn nơi cổ.
Người lính viết thư hẳn còn rất trẻ. Nhưng ngoài dòng chữ “gửi má”, không còn gì để biết thư này phải đi đâu.
Khang đem hỏi khắp đơn vị. Người thì lắc đầu, người bảo có lẽ người viết đã chuyển chốt khác. Có người lặng im rất lâu rồi nói nhỏ:
– Cũng có khi... cậu ấy không còn nữa.
Từ hôm đó, lá thư luôn nằm trong ngực áo Khang.
Mỗi lần chuẩn bị giao thư, anh lại lấy ra nhìn, hy vọng tìm được manh mối nào đó. Nhưng chiến sự ngày càng ác liệt. Trạm giao liên bị đánh phá liên tiếp, người đến rồi đi, chẳng ai biết người lính vô danh kia là ai.
Một buổi sáng, Khang theo đoàn dân sơ tán ra khỏi vùng bom đạn. Giữa dòng người, anh chú ý đến một bà cụ tóc bạc, dáng gầy gò, ôm chiếc nón lá đã rách và một túi vải nhỏ. Bà đi chậm, thỉnh thoảng lại quay đầu nhìn về phía quê cũ đang mù khói.
Khang bước đến đỡ bà:
– Bà tìm ai à?
Bà thở dài:
– Tôi chờ tin thằng con. Nó đi bộ đội hai năm ni rồi, chưa thấy về.
Nghe vậy, tim Khang bỗng thắt lại.
Anh rút lá thư trong túi áo, nhìn phong bì lấm lem rồi khẽ hỏi:
– Bà... có biết chữ không?
Bà lắc đầu.
Khang mở thư, đọc chậm từng dòng.
Bà cụ bỗng òa khóc.
– Nó đó con... nó cũng hay nói rứa... tối mô tui cũng chừa phần cơm...
Khang sững người. Anh không dám chắc đây có phải mẹ của người viết thư hay không. Nhưng đôi bàn tay run rẩy của bà đã siết chặt lấy tờ giấy như giữ lấy một phần máu thịt.
Bà vừa khóc vừa nói:
– Có phải con tui hay không... cũng là con người ta ngoài mặt trận... cho tui xin giữ lá thư ni.
Khang gật đầu, mắt cay xè.
Ông trời hôm ấy xám đặc mây. Dòng người sơ tán vẫn lầm lũi bước đi. Chỉ có bà cụ đứng lại rất lâu bên vệ đường, áp lá thư vào ngực.
Nhiều năm sau, chiến tranh kết thúc. Khang trở lại nơi trạm giao liên cũ. Rừng cây đã xanh trở lại, hố bom phủ đầy cỏ non.
Anh nhớ đến lá thư năm nào và tự hỏi: người lính vô danh ấy là ai, đã nằm lại nơi nào, có biết rằng lời nhắn của mình cuối cùng cũng tìm được một người mẹ để trở về hay không.
Gió rừng thổi qua, lao xao như tiếng ai đáp lại.
Giữa thời hoa lửa, có những lá thư không ghi địa chỉ.
Nhưng tình thương thì luôn tìm được đường về.



