Câu chuyện hoa lửa về Cựu chiến binh Đỗ Quốc Môn
Nhân vật : CCB Đỗ Quốc Môn Sinh năm : 1952
Có những lớp người đã dành trọn thanh xuân đi theo tiếng gọi thiêng liêng của
Tổ quốc, sẵn sàng sống và chiến đấu để viết nên những bản hùng ca bất tử cho dân
tộc Việt Nam. Họ đã vượt qua chiến tranh với lòng kiên cường và niềm tin không
lay chuyển. Khi hòa bình trở lại, những người lính năm xưa vẫn âm thầm sống giản
dị, tiếp tục đóng góp cho quê hương trong thời bình. Lắng nghe những câu chuyện
và lời tâm sự của các cựu chiến binh giúp ta hiểu sâu hơn về những hy sinh thầm
lặng ấy. Và chính từ đó, ta càng thêm biết ơn và trân trọng những con người đã giữ
gìn từng tấc đất cho thế hệ hôm nay.
Trong số những con người đáng kính ấy, ông Đỗ Quốc Muôn – một cựu chiến
binh của quê hương – là minh chứng sống động cho tinh thần quả cảm của thế hệ
đã đi qua chiến tranh. Ông sinh năm 1952, trưởng thành trong những năm tháng
đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh. Tháng 11 năm 1972, với lòng yêu
nước sâu sắc và khát vọng được góp phần mang lại hòa bình cho dân tộc, ông đã
tình nguyện nhập ngũ và lên đường vào miền Nam Việt Nam. Quyết định ấy thể
hiện tinh thần quả cảm của một người trẻ luôn đặt Tổ quốc lên trên mọi nỗi lo
riêng.
Ông được biên chế vào đơn vị Tô Hiệu 3 Hải Hưng, nơi quy tụ những người
lính có kỷ luật và ý chí bền bỉ. Những ngày đầu, ông tập trung huấn luyện tại
Khoái Châu, sau đó tiếp tục rèn luyện và chuẩn bị nhiệm vụ tại Chí Linh – Hải
Dương. Trong môi trường quân ngũ, ông không chỉ được rèn luyện thể lực mà còn
hun đúc tinh thần trách nhiệm, lòng kiên định và niềm tin vào ngày đất nước thống
nhất.
Bác Hồ từng nói:
“Một năm khởi đầu từ mùa xuân.
Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ.
Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội.”
Là một người lính trẻ tuổi mười sáu đôi mươi, ông không ngại việc phải xa quê,
xa gia đình để phục vụ nước nhà. Năm 1973, ông rời quê tiến vào Nam phục vụ
cho trận đánh Thượng Đức do quân đoàn 2 chủ công. Dù không nằm trong lực
lượng chủ công tham gia đánh trực tiếp nhưng bên trong ông vẫn luôn là trạng thái
sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng hi sinh vì tổ quốc bất cứ lúc nào.
Giành lại một thước đất đồng nghĩa với việc hi sinh một trái tim của đồng bào,
những công trình kiên cố, vũ khí hiện đại của quân địch giống như những cỗ máy
nghiền nát mọi ý chí tiến công của quân dân ta. Quân ta đánh cả ngày lẫn đêm,
đánh liên tiếp 2 ngày mới phá được 1 hàng rào trong khi địch thiết lập đến 7 lớp
rào chắn, giữa mỗi rào đều cài mìn. Khó khăn nguy hiểm là vậy nhưng đồng bào
Việt Nam máu đỏ da vàng, vẫn luôn mang trong mình ý chí kiên cường bất khuất
luôn sẵn sàng hi sinh tuổi trẻ của mình cho tổ quốc thân yêu. Ban đầu, quân ta chủ
động đánh vào căn cứ của địch, dù có sự yểm trợ của pháo binh nhưng vẫn yếu thế
hơn so với dàn phản công hiện đại của quân địch. Chúng xả pháo binh dồn dập vào
quân ta, buộc ta phải rút lui. Sau lần đánh đầu, rất nhiều chiến binh đã phải hi
sinh, quân ta đúc kết được những bài học và kinh nghiệm sâu sắc, từ đó củng cố lại
lực lượng rồi tiếp tục tiến công. Khác với lần đầu, giờ đây quân ta có sự yểm trợ
của dàn pháo binh và cả lực lượng áp đảo về mặt tinh thần và thể chất, đã dành
được thắng lợi, đánh tan từng lô cốt. Cuối cùng thì thiếu tá Nguyễn Văn Hùng tự
sát tại hầm chỉ huy. Sau những trận pháo binh xả liên tục thì ngọn đồi đó không
còn dấu hiệu của sự sống. Cái khốc liệt của chiến tranh đã tước đi quyền được sống
của biết bao trái tim, biết bao loài sinh vật. Những trái tim đã từng đập loạn vì tình
yêu tổ quốc giờ đây cũng đã trở nên tĩnh lặng. tổn thất về mặt tinh thần lẫn thể xác
nhưng những cuộc chiến tranh vẫn chưa dừng lại, Tô Thất Thiệu tiến quân ra Đà
Nẵng, khẳng định quyết tâm chiếm lại Thượng Đức, nơi được mệnh danh là “Cánh
cửa thép bảo vệ phía Tây Đà Nẵng” hay còn được gọi với một cái tên mĩ miều hơn
chính là “Mắt ngọc đầu rồng” thể hiện sự kiên cố và quyết tâm lấy lại Thượng Đức
của phe phản diện. Thậm chí Tô Thất Thiệu còn tuyên bố rằng “nước sông chảy
ngược lấy được Thượng Đức”. Từ đó trận đánh tiếp theo nổ ra, sau 8 ngày đêm
quân ta dành thắng lợi. Qua những trận chiến khốc liệt, gần một nghìn chiến binh
đã ra đi mãi mãi. Sự thắng lợi ấy dã tạo đà cho phong trào giải phóng miền Nam.
Bộ đội tiếp quản chi khu Thượng Đức
Những năm tháng trong quân ngũ, ông Đỗ Quốc Muôn phải đối mặt với muôn
vàn thiếu thốn, từ quân tư trang, thuốc men đến những bữa cơm chỉ vừa đủ cầm
hơi. Những ngày hành quân dài giữa đói rét và mệt mỏi tưởng như vắt kiệt sức,
nhưng ông và đồng đội vẫn luôn kiên cường, không một lời than thở. Giữa bom rơi
đạn nổ, họ chỉ biết dựa vào nhau để vượt qua hiểm nguy, sẻ chia từ miếng lương
khô đến ngụm nước ít ỏi. Chính tình đồng đội đã trở thành ngọn đuốc sáng, soi
đường và tiếp thêm sức mạnh cho người lính trẻ.
Khi nhớ lại những ngày băng rừng, lội suối hành quân xuyên dọc Bắc – Nam,
ông vẫn bồi hồi như mọi chuyện vừa mới xảy ra hôm qua. Ông chậm rãi kể: “Ngày
xưa có nắm cơm, anh em chia nhau; xưng hô mày – tao mà thương nhau nhất!”,
một câu nói mộc mạc mà thấm đượm nghĩa tình. Với ông, đó không chỉ là ký ức
chiến tranh, mà là những dấu mốc thiêng liêng làm nên bản lĩnh, tâm hồn của
người lính Cụ Hồ – những ký ức luôn sống mãi trong cuộc đời ông.
Qua lời chia sẻ của ông, ta hình dung được phần nào sự khốc liệt của chiến
tranh và cuộc sống thiếu thốn trăm bề, nơi ông và đồng đội đã đánh đổi tuổi xuân
cùng xương máu để giành lấy độc lập hôm nay. Hình ảnh người lính Cụ Hồ hiện
lên như một tượng đài bất khuất, mang ý chí kiên cường không bao giờ khuất phục
trước kẻ thù. Những câu chuyện của ông cho thấy chiến thắng không chỉ đến từ vũ
khí hay chiến lược, mà còn từ tình đồng đội, lòng yêu nước và niềm tin vào tương
lai dân tộc.
Phá chốt “tử thủ”, tiến vào Sài Gòn
Những hồi ức ông chia sẻ không chỉ tái hiện một thời chiến đầy gian khổ mà
còn gửi gắm thông điệp sâu sắc cho thế hệ hôm nay. Chúng nhắc nhở người trẻ
phải trân trọng nền hòa bình mà cha anh đã đánh đổi bằng tuổi xuân và máu
xương. Đi cùng với sự biết ơn ấy là trách nhiệm gìn giữ, phát huy những giá trị tốt
đẹp mà thế hệ trước đã để lại. Lòng biết ơn không chỉ thể hiện qua cảm xúc, mà
còn qua hành động sống có lý tưởng, nỗ lực học tập và cống hiến cho Tổ quốc.
Chính vì vậy, câu chuyện của ông trở thành lời nhắc nhở đầy ý nghĩa, giúp thế hệ
trẻ hiểu rằng quá khứ chính là nền tảng để họ bước tiếp vững vàng trong tương lai.
Khi hòa bình trở lại, dù mang vết thương ở chân từ trận chiến biên giới Thái
Lan năm 1987, ông vẫn trở về quê hương với tinh thần lạc quan và bền bỉ. Ông tiếp
tục góp sức vào công cuộc xây dựng đất nước, như cách một người lính chưa bao
giờ ngừng cống hiến. Giờ đây, sức khỏe ông đã ổn định, bước chân dù chậm hơn
nhưng vẫn vững vàng. Mỗi ngày, ông miệt mài làm công việc bảo vệ tại xưởng
gạch Đông Kết, lặng lẽ mà đầy trách nhiệm. Hình ảnh người lính năm xưa vẫn hiện
lên trong sự kiên trì và tấm lòng son sắt của ông giữa đời thường.
Chiến tranh có thể qua đi, nhưng tinh thần của những người lính sẽ mãi sống
trong lòng dân tộc. Họ là biểu tượng của lòng yêu nước, của sự kiên cường và ý chí
bất khuất. Xin gửi đến tất cả các cựu chiến binh – những người anh hùng thầm lặng
– xin tri ân sâu sắc nhất. Cảm ơn vì những gì các bác, các chú đã hy sinh để chúng
cháu được sống trong hòa bình. Và hơn hết, cảm ơn vì đã dạy chúng cháu bài học
quý giá nhất: hãy sống sao cho xứng đáng với những gì các thế hệ đi trước đã ngã
xuống để gìn giữ nền độc lập dân tộc. Xin cúi đầu trước những người lính năm xưa
– ngọn lửa không bao giờ tắt trong lòng dân tộc.



