Câu chuyện lịch sử 4 Phạm Văn Hường
Đêm Cần Thơ
ĐÊM CẦN THƠ
(Đồng chí Phạm Văn Hường)
Trong cái lạnh hanh hao của những ngày cuối năm 1972, khi miền Bắc đang oằn mình dưới những trận mưa bom B-52, tôi – một chàng trai vừa tròn mười tám với đôi kính cận thư sinh – đã đặt bút ký vào lá đơn tình nguyện. Tháng 12 năm ấy, chúng tôi lên đường. Những chuyến tàu xuôi Nam mang theo khát vọng hòa bình và cả cái hừng hực của tuổi trẻ. Đích đến của tôi là Trung đoàn 1, đóng quân tại vùng đất Cần Thơ, nơi dòng sông Hậu hiền hòa nhưng cũng đầy máu và lửa.
Những bước chân trong đêm đen

Chiến trường miền Tây không có núi cao vực thẳm như Trường Sơn, nhưng lại có những con rạch chằng chịt, những vườn cây ăn trái um tùm và đặc biệt là những "cánh đồng chó ngáp" đầy sình lầy. Trung đội chúng tôi chủ yếu hoạt động về đêm. Đêm ở Cần Thơ không tĩnh lặng như quê nhà; nó đầy rẫy những tiếng côn trùng ri rỉ xen lẫn tiếng pháo tầm xa từ các đồn bốt địch dội về. Tôi nhớ như in đêm phục kích đầu tháng 3 năm 1973 tại vùng ven Ô Môn. Nhiệm vụ của trung đội là đón lõng một toán thám báo địch thường xuyên quấy nhiễu, cướp bóc của bà con. Hành quân đêm trong sình lầy là một cực hình. Để tránh gây tiếng động, chúng tôi không đi trên bờ mà lội dọc theo mé kênh, nước ngập đến ngang bụng. Mỗi bước chân phải nhấc lên thật khẽ, đặt xuống thật êm để không làm xao động mặt nước. Muỗi ở đây to như hạt đậu, đốt xuyên qua cả lớp áo quân nhu dày cộm, nhưng không một ai dám vỗ tay xua đuổi. Chúng tôi đi thành một hàng dọc, người sau bám vào ba lô người trước. Đến điểm phục kích, chúng tôi tản ra, ngâm mình dưới bùn lầy trong những lùm dừa nước. Cái lạnh của nước sình thấm vào da thịt, đôi chân bắt đầu tê dại vì bị nước ăn, nhưng đôi mắt ai nấy đều căng ra nhìn vào khoảng tối phía trước.
Kỷ niệm về tình dân
Nói về những lần cải trang, không thể không nhắc đến sự bao bọc của người dân Cần Thơ. Có lần trung đội bị địch bao vây gắt gao trong một vườn cam ở Phong Điền. Để thoát vây, chúng tôi phải cải trang thành những người đi làm mướn, gánh cam thuê qua trạm kiểm soát. Chính bà con trong vùng đã thức trắng đêm để chuẩn bị quần áo bà ba cũ, những chiếc nón lá rách và những đôi quang gánh. Một bà má miền Tây đã nắm tay tôi, dặn dò: "Con ráng đi khéo, coi chừng cái kính cận nó phản chủ đó nghen." Tôi phải cất chiếc kính vào túi áo, mắt quáng gà đi theo gánh cam của anh Sáu. Khi đi ngang qua bốt giặc, tim tôi đập thình thịch như muốn nhảy ra ngoài lồng ngực. Nhưng nhờ sự bình tĩnh của anh em và sự phối hợp nhịp nhàng của những "người nhà" – thực chất là cơ sở cách mạng đi cùng – chúng tôi đã vượt qua cửa ải một cách an toàn.
Vĩ thanh
Tháng 12 năm 1972 tôi nhập ngũ, mang theo cái rét của Hà Nội vào miền Nam. Ba năm chiến đấu tại Cần Thơ, từ một anh chàng thư sinh, tôi đã trở thành một người lính dạn dày, biết bơi lội như rái cá, biết phân biệt tiếng súng của từng loại vũ khí và biết trân trọng từng hơi thở của hòa bình. Ngày 30/4/1975, trung đội chúng tôi tiến về tiếp quản Cần Thơ trong niềm vui vỡ òa. Tôi đứng trên cầu Cái Răng, nhìn dòng sông Hậu mênh mang sóng vỗ, chợt nhớ về những đêm trắng phục kích trong sình lầy, nhớ những lần cải trang "dở khóc dở cười" và nhớ cả những đồng đội đã nằm lại dưới những rặng dừa nước xanh ngắt. Hơn năm mươi năm đã trôi qua, mái đầu tôi giờ đã bạc trắng, nhưng mỗi khi nghe tiếng chèo khua nước hay ngửi thấy mùi bùn non sau cơn mưa, ký ức về những năm tháng chiến đấu tại Cần Thơ lại ùa về. Đó là những ngày tháng hào hùng nhất, khi chúng tôi đã sống và chiến đấu không chỉ bằng vũ khí, mà bằng cả trí tuệ, sự hy sinh và lòng yêu nước nồng nàn của những "người lính không số" giữa lòng dân.



