CÂU CHUYỆN LỊCH SỬ : ANH HÙNG LÝ TỰ TRỌNG (1914-1931)
CÂU CHUYỆN LỊCH SỬ : ANH HÙNG LÝ TỰ TRỌNG (1914-1931)
Lý Tự Trọng tên thật là Lê Hữu Trọng, sinh ngày 20/10/1914 tại Bản Mạy, tỉnh Nakhon Phanom, Vương quốc Thái Lan, trong gia đình giàu truyền thống yêu nước. Được giác ngộ cách mạng từ nhỏ, Lý Tự Trọng là một trong những nhân vật tiêu biểu, anh hùng của phong trào yêu nước Việt Nam và trở thành một trong những người lãnh đạo tích cực trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Đồng thời là tấm gương sáng về ý chí kiên cường của tuổi trẻ Việt Nam.
Năm 1926, theo chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc, đồng chí Hồ Tùng Mậu sang Thái Lan tuyển chọn một số thiếu niên Việt kiều yêu nước đưa sang Quảng Châu (Trung Quốc) học tập, chuẩn bị xây dựng tổ chức Thanh niên Cộng sản ở Việt Nam. Lê Hữu Trọng là một trong tám thiếu niên được chọn. Tại đây, anh được đưa vào tổ chức “Thiếu niên tiền phong Việt Nam” và được đánh giá là nhỏ tuổi nhất nhưng thông minh, ham học, có ý thức kỷ luật cao.
Để giữ bí mật hoạt động, các thành viên đổi sang họ Lý; Lê Hữu Trọng lấy tên là Lý Tự Trọng. Anh được học tập tại Quảng Châu, nhanh chóng thông thạo tiếng Trung và làm liên lạc cho Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1927, sau biến cố phản cách mạng của Tưởng Giới Thạch và thất bại của khởi nghĩa Quảng Châu, nhiều đồng chí bị bắt, số khác tạm lánh về nước.
Giữa năm 1929, Lý Tự Trọng được cử về hoạt động tại Sài Gòn – Chợ Lớn, tham gia tổ chức mít tinh, làm liên lạc cho Xứ ủy Nam Kỳ và vận động thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản. Năm 1930, khi Trung ương Đảng vào Sài Gòn, anh làm việc với các đồng chí Trần Phú và Ngô Gia Tự, đảm nhiệm công tác liên lạc và nghiên cứu phong trào thanh niên.
Ngày 08/02/1931, trong buổi tuyên truyền kỷ niệm khởi nghĩa Yên Bái, khi đồng chí Phan Bôi bị mật thám Legrand bắt giữ, Lý Tự Trọng đã nổ súng bắn tên mật thám để cứu đồng chí. Sau sự kiện đó, thực dân Pháp ráo riết truy lùng và bắt được anh.
Sau khi bị thực dân Pháp bắt, Lý Tự Trọng bị đưa đi tra tấn và giam giữ lần lượt tại hai nơi là bốt Catinat và Khám lớn Sài Gòn. Dù bị tra tấn vô cùng dã man nhưng địch không khai thác được thông tin gì từ anh, chỉ nói tên anh là Nguyễn Huy. Trong một thời gian không thu được kết quả, bọn chúng đưa anh ra xử án. Run sợ trước phong trào cách mạng, chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương đã mở một phiên tòa đại hình để xử một chiến sĩ cộng sản Việt Nam chưa đầy 17 tuổi. Lý Tự Trọng đã bị kết án tử hình. Trong những ngày cuối cùng ở xà lim án chém, Lý Tự Trọng vẫn lạc quan yêu đời, tin tưởng vào sự thắng lợi của cách mạng. Khí phách hiên ngang của anh đã làm cho bọn cai ngục phải khâm phục và kinh ngạc, chúng gọi anh là “Ông Nhỏ”, “thật là con người gang thép”.
Tối ngày 20/11/1931, bọn cai ngục lặng lẽ đưa máy chém đến sát cửa Khám lớn. Lúc này, toàn khám náo động, tiếng đập cửa ầm ầm, tiếng la hét, tiếng hô khẩu hiệu của hàng ngàn tù nhân kể cả thường phạm vang ra ngoài: “Đả đảo thực dân xử tử anh Trọng”, “Đả đảo thực dân giết hại Nguyễn Huy”, “Trả tự do cho Lý Tự Trọng”. Trước các tay súng vây quanh, Lý Tự Trọng bình tĩnh, ung dung bước đi, miệng hô lớn: “Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm” “Việt Nam, Việt Nam độc lập muôn năm! ”, “Cách mạng Việt Nam thành công muôn năm! ”, “Vùng lên hỡi các nô lệ ở thế gian! Vùng lên, vùng lên...”. Sự hy sinh anh dũng của anh trở thành biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, là lời hiệu triệu cho các thế hệ thanh niên Việt Nam đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Kế thừa truyền thống cách mạng của dân tộc, noi gương anh hùng liệt sỹ Lý Tự Trọng, trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, cùng với tuổi trẻ cả nước, luôn là lực lượng xung kích đi đầu trong học tập, xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước. Cuộc đời của Lý Tự Trọng là tấm gương sáng về tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường của tuổi trẻ Việt Nam. Câu nói: “Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng chứ không thể là con đường nào khác” của Lý Tự Trọng mãi mãi ghi vào lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam, đã trở thành lý tưởng sống và vũ khí chiến đấu, kim chỉ nam hành động của thanh niên Việt Nam qua mọi thời kỳ cách mạng.
Năm


