Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

CÂU CHUYỆN LỊCH SỬ “THỜI HOA LỬA”

Hưng Yên29/12/2025Nguyễn Huy Đăng (Trường THPT Trần Thị Dung, xã Long Hưng, Tỉnh Hưng Yên)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Bài viết về: CÂU CHUYỆN LỊCH SỬ “THỜI HOA LỬA”

Mỗi buổi chiều về, trên con đường nhỏ quen thuộc dẫn lối vào nhà ngoại, lòng tôi lại nôn nao nhớ về hồi ức tuổi thơ khi ngoại còn sống; những câu chuyện ngoại kể, những kí ức về thời hoa lửa mà ông ngoại tôi đã đi qua trong những năm tháng chiến tranh luôn hiện hữu trong tâm trí tôi. Người mà tôi muốn kể về “một thời hoa lửa” hôm nay, đó chính là ông ngoại của tôi.

Ông ngoại tôi tên là Nguyễn Viết Châu sinh năm 1943, quê quán tại thôn Khuốc, xã Liên Hiệp, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình ( nay là xã Long Hưng, tỉnh Hưng Yên).

Năm 1964, chiến tranh lan rộng, Mỹ ném bom bắn phá miền Bắc. Nghe theo tiếng gọi của Đảng, ông ngoại tôi lên đường nhập ngũ đóng quân ở Binh đoàn 559 làm nhiệm vụ mở đường theo dãy Trường Sơn hay còn gọi là đường Hồ Chí Minh lịch sử cho quân ta tiến vào Miền Nam. Trong những năm kháng chiến gian khổ, với điều kiện khắc nghiệt, thiếu thốn mọi thứ nhưng với ý chí, tinh thần dũng cảm của người lính bộ đội cụ Hồ, ông ngoại tôi luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Tháng 9 năm 1965, ông ngoại tôi ở chiến trường được về nghỉ phép một tuần. Trong thời gian nghỉ phép, ông ngoại tôi đã tranh thủ làm đám cưới với bà ngoại. Bà ngoại tôi kể lại, đám cưới thời chiến tranh đơn sơ, thiếu thốn, vội vã vì điều kiện thời chiến không cho phép. Đám cưới chỉ có ba bốn người đi đón dâu và làm một mâm cơm báo cáo gia tiên, thậm chí cậu em ruột Nguyễn Công Nam dạy học ở trường THCS Tam Điệp cũ nay là trường THCS Điệp Nông ngay gần nhà mà cũng không dám báo tin cho em. Nghe ngoại kể, tôi xúc động vô cùng.

Sau đám cưới một tuần, ông ngoại tôi lại lên đường tiếp tục tham gia vào chiến trường miền Nam. Trong 10 năm, từ năm 1965 đến 1975, ông tôi không một lần được về phép thăm nhà. Tôi còn nhớ khi mỗi khi vào chơi, bà ngoại tôi lại đem những tấm ảnh, những lá thư ông viết vội trên trang giấy màu vàng nhạt đã cũ kĩ ra khoe với tôi. Bà kể và nâng niu từng nét chữ trên lá thư, từng kỉ niệm với ông mỗi khi nhắc đến ông. Những dòng chữ đẹp, nắn nót ông gửi tặng bà không chỉ là tình cảm, tấm lòng thuỷ chung mà bằng cả niềm tin chiến thắng mong ngày đất nước độc lập. Đọc những dòng thư ông viết cho bà ngoại, tôi cảm động vô cùng và phần nào hiểu được những ngày tháng chiến tranh gian khổ, ác liệt nơi chiến trường.

Ngày 30/4/1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, non sông thu về một dải, ông ngoại tôi trở về quê hương lập nghiệp. Năm 1976, ông làm quản đốc Khu gang thép Thái Nguyên. Những năm hoà bình lập lại ông ngoại tôi sinh được 4 người con, mẹ tôi là con út hiện đang công tác tại trường TH và THCS Tân Hoà, nay là xã Ngự Thiên. Sau khi sinh con, do điều kiện con nhỏ, kinh tế sau chiến tranh khó khăn, thiếu ông xin về nghỉ việc sớm. Trở về quê hương, ông lăn lội làm việc, lao động để chăm lo cho đàn con nhỏ. Nhưng với căn bệnh ưng thư phổi do chất độc hoá học của Mỹ giải xuống miền Nam, mặc dù tận tình cứu chữa nhưng ông ngoại tôi không qua khỏi . Ông mất năm 1988 khi mới 42 tuổi, để lại người vợ trẻ và đàn con thơ dại.Đứa bé nhất là mẹ tôi bây giờ, khi đó mới có 5 tuổi. Tôi vẫn luôn nhớ trong hồi ức khi ngoại kể lại: khoảng thời gian 5 năm ông mắc bệnh ung thư, bà ngoại lo chạy chữ, vay mượn thuốc men cho ông. Trong nhà chảng còn gì, thậm chí bán cả buồng chuối để lấy tiền mua thuốc cho ông. Vừa kể mắt bà dưng dưng mỗi khi nhắc về ông. Đến khi ông nằm xuống trong nhà chỉ còn mỗi 3 gian nhà trống rỗng.

Viết những dòng cảm xúc này, tôi vô cùng xúc động, biết ơn cùng niền tự hào vô bờ bến về những người cựu chiến binh, người lính, người chiến sĩ kiên cường bất khuất, gan dạ, dũng cảm trong kháng chiến; bình tĩnh, lạc quan, tự tại giữa thời bình như ông ngoại của tôi. Mặc dù ông bà ngoại tôi hiện nay không còn nữa, nhưng mối khi nhắc đến, những kí ức tuổi thơ lại ùa về trong tôi. Nó nhắc nhở, khơi dậy và đánh thức trong tôi lòng biết ơn, niềm tự hào và trách nhiệm đối với đất nước, dân tộc. Tội tự nhủ lòng mình, thế hệ trẻ chúng tôi được sinh ra và lớn lên khi đất nước hoà bình hãy biết trân trọng, gìn giữ những thành quả mà cha ông ta đã gây dựng. Hơn hết, mỗi chúng ta hãy ra sức tu dưỡng rèn luyện, học tập, trau dồi kiến thức, kĩ năng, phẩm chất đạo đức, không ngại khó khăn gian khổ, sẵn sàng nhận nhiệm vụ khi tổ quốc cần... Lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, kiên cường, bất khuất luôn là một phẩm chất đạo đức sáng ngời trong lòng mỗi người con đất Việt.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn